Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2024/DS-ST

Ngày: 08 - 8-2024

V/v “Tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy;
  2. Bà Võ Thị Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 698/2023/TLST-DS ngày 28/12/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2024/QÐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: Số B - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1993; Địa chỉ liên hệ: Số C N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trương Đại Hoàn V, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số A Đường số C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S tại đơn khởi kiện ngày 13/12/2023, trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án có ông Nguyễn Văn D là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S (nguyên đơn) có ký kết với ông Trương Đại Hoàn V (bị đơn) “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022, kèm theo Giấy đề nghị là bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, với nội dung: Loại thẻ tín dụng: Visa Platinum Cashback; Số tài khoản thẻ: 436438 - 2821; hạn mức thẻ tín dụng được cấp là: 49.000.000 đồng; Mức lãi suất trong hạn là 2.766%/tháng Lãi suất quá hạn: 150% mức lãi suất trong hạn; Mục đích: tiêu dùng cá nhân; Hình thức bảo đảm: tín chấp.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch và chậm thanh toán nên phát sinh lãi, phí, tổng số tiền giao dịch và lãi, phí là 359.064.595 đồng, ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 301.569.000 đồng. Ông V còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 57.495.595 đồng; tiền lãi quá hạn từ ngày 05/10/2023 đến ngày 08/8/2024 là 24.045.624 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 09/8/2024, ông V còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi ông V trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ thẻ tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 08/8/2024 với tổng số tiền là 81.541.219 đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, kể từ ngày 09/8/2024, ông V còn phải tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh cho đến khi ông V trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022.

Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S có ông Nguyễn Văn D là người đại diện theo ủy quyền có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Về phía bị đơn ông Trương Đại Hoàn V, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập ông V đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông V không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp về hợp đồng vay tín dụng đối với ông Trương Đại Hoàn V có địa chỉ tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự, quan hệ tranh chấp là quan hệ tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.2] Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn là số A Đường số C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo địa chỉ được ông Vũ G trong giao dịch hợp đồng tín dụng và các văn bản khác với Ngân hàng đều thể hiện ông Vũ thường T tại địa chỉ số A Đường số C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả trả lời của Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tại kết quả xác minh số 189/XM-TA ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7 thì đương sự Trương Đại Hoàn V, sinh năm 2001 có hộ khẩu thường tại địa chỉ số A Đường số C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện nay không có thực tế cư trú, đi đâu không rõ.

Vì vậy, trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Trương Đại Hoàn V. Nay ông Trương Đại Hoàn V vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

[1.3] Người đại diện theo ủy quyền cả nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.4] Đối với bị đơn ông Trương Đại Hoàn V là trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[1.5] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

[3] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:

Để chứng minh cho yêu cầu của mình ngoài một số tài liệu là bản sao đã được chứng thực, đối chiếu bản chính, nguyên đơn còn cung cấp cho Tòa án bản sao các tài liệu có liên quan nhưng không có bản chính để đối chiếu, sao y. Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự biết nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án cho xem và không có đương sự nào phản đối các tài liệu này. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đều thừa nhận nội dung vụ việc đúng như diễn tiến nêu tại phần trên. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Tòa án sẽ sử dụng các tài liệu này làm căn cứ để giải quyết vụ án.

Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Trương Đại Hoàn V đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022, tạm tính đến ngày 08/8/2024, với tổng số tiền là 81.541.219 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc là 57.495.595 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn từ ngày 05/10/2023 đến ngày 08/8/2024 là 24.045.624 đồng.

Yêu cầu bị đơn trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra kể từ ngày 09/8/2024, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, các bảng sao kê và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định: nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có cho bị đơn ông Trương Đại Hoàn V mở thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng thẻ là 49.000.000 đồng. Ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 347.999.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ ông V thanh toán trễ nên ngoài số tiền phát sinh do thực hiện các giao dịch thì ông V còn nợ phát sinh thêm các khoản phí, lãi là 11.065.595 đồng. Tổng số tiền giao dịch và lãi phí là 359.064.595 đồng. Ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 301.569.000 đồng. Từ ngày 05/10/2023, ông V còn nợ số tiền gốc là 57.495.595 đồng nhưng ông V không thực hiện việc thanh toán theo đúng thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên bị đơn là bên có lỗi. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc là 57.495.595 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả nợ lãi quá hạn từ ngày 05/10/2023 tạm tính đến ngày 08/8/2024 với số tiền là 24.045.624 đồng.

Xét thấy các bên tự nguyện thỏa thuận việc tính lãi, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Đây là mức lãi suất theo thỏa thuận, có giá trị ràng buộc quyền, nghĩa vụ trả lãi của bên vay. Thời hạn chuyển nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ lãi quá hạn tính đến ngày 08/8/2024 với số tiền 24.045.624 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, ông Trương Đại H V còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay nên lãi suất mà ông Trương Đại Hoàn V phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay quy định từng thời điểm.

[4.3] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[4.4] Về án phí: Ông Trương Đại Hoàn V phải có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; Ngân hàng TMCP S không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S:

1.1. Buộc ông Trương Đại Hoàn V thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 08/8/2024 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được nguyên đơn phê duyệt ngày 20/9/2022 là 81.541.219 (Tám mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn hai trăm mười chín) đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 57.495.595 (Năm mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn năm trăm chín mươi lăm) đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 24.045.624 (Hai mươi bốn triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm hai mươi bốn) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.

1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trương Đại H V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của Ngân hàng nên lãi suất mà ông Trương Đại Hoàn V phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trương Đại Hoàn V phải chịu 4.077.061 (Bốn triệu không trăm bảy mươi bảy ngàn không trăm sáu mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.490.904 (Một triệu bốn trăm chín mươi ngàn chín trăm lẻ bốn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0037782 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp HCM;
  • - VKSND Q7;
  • - Chi cục THADS Q7;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ (Dung).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 297/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 297/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngân hang thuong tin - truong dai hoan vu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger