TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 297/2024/DS-PT Ngày: 19-7-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những
Bà Lê Thị Kim Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 237/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1951; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà V: Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số B đường N, Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hữu Anh T, sinh năm 1973;
- Ông Nguyễn Hữu Anh T1, sinh năm 1975;
- Bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: Số E, Ấp C Nhà T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T, ông T1, bà C: Bà Đào Nguyễn Hương D1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số H, Đường B, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Lê Thành Ú – Chủ tịch.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Huỳnh Hữu D2 – Giám đốc.
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/02/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/10/2023, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị V và người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Bích D trình bày:
Thửa đất 207, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.014m², tại xã T do bà Lê Thị V đứng tên trên Sổ Mục kê có nguồn gốc của ông Hội đồng Bỉnh hiến đất cho UBND xã quản lý, UBND xã cấp cho mẹ chồng bà V là bà Lê Thị T2 vào năm 1978 theo chính sách gia đình liệt sĩ. Đến năm 1980, bà T2 bán cho bà V với giá 04 chỉ vàng 24k, việc mua bán không lập thành văn bản. Bà nhận đất quản lý đóng thuế cho nhà nước và kê khai đứng tên trên sổ mục kê và quản lý đến năm 2005 thì ông Nguyễn Hữu L phát sinh tranh chấp với bà. Sự việc được UBND xã T giải quyết tranh chấp thì bà được vận động “nhường cơm xẻ áo” cho ông L 1/3 tương đương 1.300m² để bà được cấp GCNQSDĐ và bà đồng ý. Sau khi hoà giải thành thì cán bộ địa chính tiến hành đo đạc thửa đất 207 để cắt cho ông L 1/3 đất nay đo đạc thực tế là 1.086,9m², tại vị trí khu E theo Mảnh trích đo địa chính. Khi đó ông L không đồng ý nhận đất nhưng bà vẫn chấp nhận sử dụng theo hiện trạng Ủy ban nhân dân xã T hoà giải và đã đắp bờ phân ranh phần đất của bà với phần đất đồng ý nhường cho ông L. Tuy nhiên, đến năm 2007 bà vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ nên bà đã khiếu nại tại Ủy ban nhân dân huyện B và Ủy ban nhân dân tỉnh L để được cấp GCNQSDĐ nhưng không được chấp nhận nên khởi kiện tại Toà án các cấp và vụ việc tranh chấp kéo dài đến nay. Phần đất Uỷ ban xã đo đạc cắt cho ông L thì ông L không trực tiếp canh tác mà cho người khác thuê, sau khi ông L chết thì con ông L là ông Nguyễn Hữu Anh T quản lý.
Nay bà V khởi kiện yêu cầu:
- Buộc các đồng thừa kế của ông Nguyễn Hữu L là ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C phải trả lại cho bà phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Yêu cầu công nhận cho bà V phần đất 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Tại đơn phản tố ngày 18/12/2023, các bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C và người đại diện theo uỷ quyền là bà Đào Nguyễn Hương D1 trình bày:
Ông Nguyễn Hữu L sinh năm 1942, chết năm 2019 có cha là Nguyễn Hữu N, có mẹ là Đặng Thị H (cha mẹ ông L chết trước năm 1990), có vợ là Nguyễn Thị Bích N1 sinh năm 1938, chết năm 2012; có 03 người con là ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C. Ngoài ra ông L không còn con ngoài giá thú hay con nuôi nào khác.
Phần đất đo đạc thực tế 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11) tại xã T trong tổng diện tích 3.953m² thửa 207 có nguồn gốc do cha ông Nguyễn Hữu L sử dụng vì là tá điền nhiều năm của Hội đồng B và canh tác nhiều năm cho đến sau ngày giải phóng, ông L được vận động san sẻ đất cho bà Lê Thị Thạch . Đến năm 1988, bà T2 trả lại phần đất này cho ông L và chuyển về sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng con trai là ông T3. Sau khi nhận lại đất ông L thuê mướn nhiều người canh tác, sản xuất trên thửa đất này do ông L là giáo viên nên chỉ tham gia quản lý sản xuất sau thời gian công tác tại trường.
Đến năm 1990, ông T3 đưa bà V và bà T2 về xã T sinh sống nhưng không chuyển hộ khẩu về địa phương. Ông T3 có đến gặp ông L để mượn phần đất này cho bà V canh tác nuôi bà T2 và hứa là sẽ trả lại đất cho ông L sau khi bà T2 chết. Việc thỏa thuận mượn đất này theo thông lệ địa phương là hỏi miệng không làm giấy tờ gì. Năm 1995, bà T2 được UBND Thành phố H phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng. Năm 2004 bà T2 chết, bà V không trả lại đất cho ông L theo thỏa thuận và cho rằng đất này cấp cho mẹ Việt Nam anh hùng. Ông L đã khiếu nại đến UBND xã T.
Năm 2005, UBND xã T hòa giải tranh chấp và vận động bà V trả lại cho ông L 1/3 diện tích tương đương 1300m² phần diện tích còn lại giao cho bà V tiếp tục sử dụng canh tác. Sự việc đã được UBND xã T lập biên bản hòa giải thành làm căn cứ cấp GCNQSDĐ cho 02 bên. Sau đó cán bộ địa chính và tư pháp xã T cùng bà V, ông L và con trai Nguyễn Hữu Anh T cùng 01 số người dân địa phương đã có mặt tiến hành đo đạc và cắm mốc ranh đất theo biên bản hòa giải thành tại UBND xã. Sau thời gian UBND xã thay đổi nhiều cán bộ địa chính nên biên bản hòa giải thành làm cơ sở để UBND cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 bên bị thất lạc nhưng thực tế 02 bên vẫn tiếp tục sử dụng phần đất cho đến ngày nay là phần đất đo đạc thực tế 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11).
Trong thời gian UBND huyện B làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 bên thì bà V lại khiếu nại yêu cầu được cấp GCNQSDĐ toàn bộ thửa đất. Việc khiếu nại đã được UBND huyện B giải quyết bằng quyết định số
5941/QĐ UBND ngày 09/10/2009 công nhận đất cho các bên theo hiện trạng sử dụng, sau đó bà V tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh L và được giải quyết bằng quyết định số 965/QĐ-UBND ngày 09/04/2010 giữ nguyên Quyết định số 5941. Bà V tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính và được giải quyết bằng Bản án sơ thẩm số 04/2014/HC-ST ngày 22/09/2014 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V. Vụ án cũng đã được xét xử tại cấp phúc thẩm theo bản án số 15/2015/HC-PT ngày 25/03/2015, tại phiên tòa phúc thẩm bà V cũng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới và bản án phúc thẩm cũng chỉ sửa 01 phần bản án sơ thẩm về thủ tục tố tụng còn các vấn đề khác vẫn không thay đổi.
Năm 2018, ông Nguyễn Hữu L chết, lợi dụng việc này bà V lại tiếp tục khởi kiện con ông L là ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C để đòi lại phần đất đo đạc thực tế là 1.086,9m² thuộc thửa 498, tờ bản đồ số 11 theo Biên bản hoà giải ở Ủy ban nhân dân xã T năm 2005.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà V thì các bị đơn không đồng ý toàn bộ. Đồng thời, các bị đơn có yêu cầu phản tố: Yêu cầu công nhận cho các con của ông Nguyễn Hữu L là ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C phần đất 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 92-2023 do Công ty TNHH Đ vẽ ngày 10/5/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 12/5/2023.
Ủy ban nhân dân huyện B và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện B: Đề nghị Toà án nhân dân huyện Bến Lức căn cứ quy định pháp luật để giải quyết yêu cầu của các đương sự. Ủy ban nhân dân huyện B thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án và yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình Toà án các cấp giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V về việc yêu cầu các bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C trả đất và công nhận QSDĐ đối với 1.086,9m2, tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
Ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
(Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 92-2023 do Công ty TNHH Đ vẽ ngày 10/5/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 12/5/2023).
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.
- Chi phí tố tụng: 23.500.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, xác minh. Bà Lê Thị V phải chịu toàn bộ chi phí và đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị V được miễn án phí.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Sau khi tuyên án, Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 07/3/2024 bà Lê Thị V kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà D1 và bà V thống nhất trình bày: Yêu cầu các đồng thừa kế của ông Nguyễn Hữu L là ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C phải trả lại cho bà phần đất đo đạc thực tế là 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Yêu cầu công nhận cho bà V phần đất 1.086,9m², tại vị trí khu E nêu trên.
Ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C và người đại diện theo uỷ quyền là bà Đào Nguyễn Hương D1 trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự thống nhất sử dụng Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 92-2023 do Công ty TNHH Đ vẽ ngày 10/5/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 12/5/2023; chứng thư thẩm định giá số 697.2023.VT.HS ngày 26/6/2023 do Công ty T4 lập để làm căn cứ giải quyết vụ án. Về hiện trạng phần đất tranh chấp không thay đổi so với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/6/2020 và 19/10/2022.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về chấp hành pháp luật:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.
Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trong thời hạn quy định tại
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về giải quyết vụ án:
Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế 1.086,9m2, tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 92-2023 do Công ty TNHH Đ vẽ ngày 10/5/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 12/5/2023.
Về nguồn gốc đất: Các bên đều thống nhất nguồn gốc đất là của Hội đồng Bỉnh nhưng không thống nhất được quá trình sử dụng. Bà V trình bày Hội đồng Bỉnh hiến đất cho UBND xã quản lý, UBND xã cấp cho mẹ chồng là Lê Thị T2 vào năm 1978 theo chính sách gia đình liệt sĩ, sau đó bà T2 bán cho bà Lê Thị V nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Trong khi năm 1995 bà T2 mới được Ủy ban nhân dân Thành phố H công nhận mẹ Việt Nam anh hùng thì không thể có việc cấp đất cho mẹ Việt Nam anh hùng năm 1978 được. Việc bà V cho rằng bà T2 được cấp đất do chính sách người cày có ruộng cũng không có chứng cứ chứng minh.
Bị đơn cho rằng nguồn gốc thửa đất 207 là của cha ông L vì là tá điền nhiều năm của Hội đồng B và canh tác nhiều năm. Sau ngày giải phóng, ông L được vận động san sẻ đất cho bà Lê Thị Thạch . Đến năm 1988, bà T2 trả lại phần đất này cho ông L và chuyển về sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1990, ông T3 là con của bà Thạch mượn lại đất để canh tác nuôi bà T2 đến khi bà T2 chết sẽ trả lại đất nhưng năm 2004 bà T2 chết mà ông T3 không trả lại đất nên ông L tranh chấp tại Ủy ban nhân dân xã T, ông L cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh việc ông cho ông T3 mượn đất. Như vậy, các đương sự chưa ai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013.
Tuy nhiên, năm 2005, giữa ông L với bà V đã phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã T. Theo bà V thì tại buổi hoà giải bà được cán bộ xã vận động “nhường cơm xẻ áo” cắt cho ông L 1/3 đất, bà tiếp tục quản lý 2/3 đất, bà đã đồng ý và cán bộ địa chính đo đạc cắt cho ông L, hiện tại là phần đất đo đạc thực tế hiện nay là 1.086,9m2, tại vị trí khu E theo Mảnh trích đo địa chính. Từ sau khi được Ủy ban nhân dân xã T đo đạc, cắt đất phân chia thì bà V đắp bờ ranh và chỉ trực tiếp quản lý, sử dụng đất với phần đất của bà, còn phần đất khu E này ông L không trực tiếp canh tác mà cho người khác thuê canh tác, sau khi ông L chết thì con của ông L là ông Nguyễn Hữu Anh T quản lý và cho người khác thuê, đến năm 2021 thì bỏ trống cho đến nay, ranh đất giữa hai bên từ sau khi được Ủy ban nhân dân xã T phân chia đến nay không thay đổi.
Từ những phân tích trên, xét thấy phần đất tranh chấp ông L quản lý (sau khi ông L chết thì ông T quản lý) dựa trên kết quả hoà giải thành của Ủy ban nhân dân xã T và được Ủy ban nhân dân xã T đo đạc giao ranh đất, tại thời điểm thoả thuận phân chia bà V được 2/3 và ông L được 1/3 thì các đương sự tự nguyện và không ai bị ép buộc. Bà V cũng thừa nhận từ sau khi được phân chia đất thì hai bên vẫn sử dụng theo hiện trạng được phân chia, các bên không thay đổi ranh đất, hiện nay phần đất tranh chấp chưa được cấp GCNQSDĐ. Việc bà V khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính từ năm 2007 đến năm 2015 cũng chỉ khiếu nại yêu cầu được cấp GCNQSDĐ mà không tranh chấp về quyền sử dụng đất hay khiếu nại thay đổi ý kiến về nội dung hoà giải thành nên cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng theo thoả thuận của các bên. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà V.
Bà V cho rằng mục đích bà V đồng ý phân chia 1/3 đất cho ông L là để bà được cấp GCNQSDĐ, sau khi được cấp GCNQSDĐ thì bà sẽ làm thủ tục phân chia cho ông L 1/3 đất theo kết quả hoà giải tại UBND xã T. Tuy nhiên, năm 2007 bà V vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ nên khiếu nại và được UBND huyện B giải quyết bằng quyết định số 5941/QĐ-UBND ngày 09/10/2009 không chấp nhận khiếu nại của bà V và công nhận đất cho các bên theo hiện trạng sử dụng, sau đó bà V tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh L và được giải quyết bằng quyết định số 965/QĐ-UBND ngày 09/04/2010 giữ nguyên Quyết định số 5941. Bà V tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính và được giải quyết bằng Bản án sơ thẩm số 04/2014/HC-ST ngày 22/09/2014 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V. Bà V tiếp tục kháng cáo và được Toà án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo bản án số 15/2015/HC-PT ngày 25/03/2015 sửa bản án sơ thẩm, huỷ quyết định số 5941/QĐ-UBND ngày 09/10/2009 của Ủy ban nhân dân huyện B. Qua quá trình khiếu nại trên bà V cũng xác định bà V không tranh chấp quyền sử dụng đất với ông L mà bà chỉ khiếu nại yêu cầu được cấp GCNQSDĐ.
Từ những phân tích trên, nhận thấy phần đất tranh chấp ông L quản lý (sau khi ông L chết thì ông T quản lý) dựa trên kết quả hoà giải thành của Ủy ban nhân dân xã T và được Ủy ban nhân dân xã T đo đạc giao ranh đất, tại thời điểm thoả thuận phân chia bà V được 2/3 và ông L được 1/3 thì các đương sự tự nguyện và không ai bị ép buộc. Bà V cũng thừa nhận từ sau khi được phân chia đất thì hai bên vẫn sử dụng theo hiện trạng được phân chia, các bên không thay đổi ranh đất, hiện nay phần đất tranh chấp chưa được cấp GCNQSDĐ. Việc bà V khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính từ năm 2007 đến năm 2015 cũng chỉ khiếu nại yêu cầu được cấp GCNQSDĐ mà không tranh chấp về quyền sử dụng đất hay khiếu nại thay đổi ý kiến về nội dung hoà giải thành nên cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng theo thoả thuận của các bên. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ pháp luật. Bà V kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà V. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận. Các nội dung khác của bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị V là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí theo điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị V.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 158, Điều 160, Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 100, Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V về việc yêu cầu các bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C trả đất và công nhận quyền sử dụng đất đối với 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
Ông Nguyễn Hữu Anh T, ông Nguyễn Hữu Anh T1, bà Nguyễn Thị Bích C được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với 1.086,9m², tại vị trí khu E, thuộc một phần thửa 207, bờ bản đồ số 3 (nay là thửa 498, tờ bản đồ số 11), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
(Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 92-2023 do Công ty TNHH Đ vẽ ngày 10/5/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 12/5/2023).
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.
- Về chi phí tố tụng: Tổng cộng là 23.500.000 đồng gồm chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, xác minh. Bà Lê Thị V phải chịu toàn bộ chi phí và đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị V được miễn.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị V được miễn.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 297/2024/DS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 297/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V
