Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-8-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2544/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 337/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị S, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số A, đường D, tổ G, khu phố C, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Đinh C, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số nhà B, tổ C, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trịnh Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông C chung sống tự nguyện, có đăng kí kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng từ tháng 11 năm 2021 đến nay vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng, thường xuyên gây ra mâu thuẫn cãi vã, mặc dù nhiều lần hai vợ chồng ngồi lại nói chuyện nhưng không có kết quả và hiện vợ chồng bà đã sống ly thân khoảng 2 năm nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt nên bà làm đơn yêu cầu ly hôn với ông C.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông C có 2 con chung tên Đinh Thành N, sinh ngày 20/12/2010 và Đinh Thị Yến N1, sinh ngày 31/12/2014. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Đinh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông C.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà S, ông C không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà S yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Về con chung: giao 2 con chung tên Đinh Thành N, sinh ngày 20/12/2010 và Đinh Thị Yến N1, sinh ngày 31/12/2014 cho bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông C nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu. Về án phí: Bà S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà S yêu cầu được ly hôn với ông C, yêu cầu nuôi con. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; Bà Trịnh Thị S là nguyên đơn, ông Đinh C là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Đinh C hiện đang cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bà S có đơn xin xét xử vắng mặt, ông C đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà S, ông C theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị SĐinh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện với nhau vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi hai vợ chồng bà kết hôn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân là do quan điểm sống bất đồng, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay cả hai đã sống ly thân khoảng 2 năm nay, bà S xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông C.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông C đến Tòa làm việc nhưng ông C vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông C không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà S.

Kết quả xác minh tại Công an phường L, thành phố B thể hiện nội dung: ông Đinh C hiện đang sinh sống tại địa phương.

Kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường L thể hiện địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà S và ông C.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà S và ông C là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S, giải quyết cho bà S được ly hôn với ông C để trả tự do cho cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Có 02 con chung tên Đinh Thành N, sinh ngày 20/12/2010 và Đinh Thị Yến N1, sinh ngày 31/12/2014. Ly hôn, bà S đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai các con chung cũng có nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Ông C không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến của mình về vấn đề con chung. Do đó cần giao 02 con chung cho bà S trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của con chung và cũng để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ. Tạm thời, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà S không yêu cầu.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông C nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng vào Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị S. Bà Trịnh Thị S được ly hôn với ông Đinh Chuyển.

2. Về con chung: Giao 2 con chung tên Đinh Thành N, sinh ngày 20/12/2010 và Đinh Thị Yến N1, sinh ngày 31/12/2014 cho bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Bà Trịnh Thị S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà S đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009400 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà S đã nộp xong án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 297/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 297/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Soa - Chuyển
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger