TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 297/2024/DS-PT Ngày: 15/7/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Ông Nguyễn Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/7/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 113/2024/TLPT-DS ngày 06/6/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 250/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1967. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Bích K, sinh năm 1968. (có mặt)
2. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T: ông Trần Tuấn M, sinh năm 1988 (văn bản ủy quyền ngày 09/7/2024). (có mặt)
Địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1971. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 và bị đơn bà Nguyễn Thị Bích K, ông Phạm Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày: Bà Nguyễn Thị Bích K có tham gia chơi nhiều dây hụi có lãi do bà Lê Thị B làm chủ hụi. Bà K chơi hụi từ ngày 04/12/2020 (tức ngày 20-10-C) đến ngày 27/01/2023 (tức ngày 06-01-Quý Mão) thì nghỉ chơi. Lúc tham gia chơi hụi thì bà K hốt hụi xây nhà, trả nợ, mua sắm vật dụng trong nhà. Ngoài số tiền hụi bà K còn thiếu 128.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K (quy đổi ra tiền là 5.500.000 đồng) thì bà K còn nợ tiền vay là 171.000.000 đồng. Hai bên có đối chiếu nợ là bà K còn nợ 304.500.000 đồng cả tiền hụi và tiền vay.
Nay bà khởi kiện yêu cầu bà K và ông Phạm Văn T trả cho bà số tiền vay và hụi là 304.500.000 đồng. Bà không đồng ý bà Nguyễn Thị B1 (em của bà K trả thay vì bà không giao dịch với bà Nguyễn Thị B1). Đồng thời bà yêu cầu ông T có trách nhiệm liên đới cùng bà K trả số tiền trên cho bà vì ông T biết việc chơi hụi và vay tiền của bà K. Bà K dùng số tiền này để trang trải cuộc sống gia đình.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích K trình bày: Bà K thừa nhận trong thời gian qua, bà có chơi hụi có lãi và đã hốt hụi do bà Lê Thị B làm chủ hụi. Số tiền hụi chết mà hiện nay bà còn nợ bà B là 128.000.000 đồng. Ngoài ra, bà còn vay của bà Lê Thị B là 171.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K. Đối với 01 chỉ vàng 24K, bà và bà B đã tự nguyện thống nhất quy đổi thành tiền vay là 5.500.000 đồng nên tổng số tiền còn nợ bà B tổng cộng 304.500.000 đồng. Riêng đối với số tiền vay 171.000.000 đồng được vay làm nhiều lần, có thỏa thuận lãi suất như sau: Đối với khoản vay 50.000.000 đồng có lãi suất thỏa thuận 30.000đ/tháng/-1.000.000đ; khoản vay 20.000.000 đồng có lãi suất thỏa thuận 35.000đ/tháng/-1.000.000đ; khoản vay 40.000.000 đồng có lãi suất thỏa thuận 40.000đ/1.000.000đ/-tháng; khoản vay 20.000.000 đồng và 41.000.000 đồng có lãi suất thỏa thuận 40.000đ/-1.000.000đ/tháng.
Qua yêu cầu của bà Lê Thị B bà đồng ý chịu trách nhiệm cá nhân trả cho bà Lê Thị B 304.500.000 đồng và tiền lãi phát sinh, theo lãi suất 10%/năm. Nhưng bà K xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi trả xong nợ. Bà K không đồng ý cùng ông Phạm Văn T (chồng bà K) chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà B số tiền trên vì bà K không sử dụng số tiền trên cho lợi ích chung của gia đình, mà đưa cho bà Nguyễn Thị B1 (em gái bà K) mượn để trả nợ riêng của bà Nguyễn Thị B1; còn ông T không biết bà K chơi hụi và vay tiền của bà Lê Thị B rồi cho bà Nguyễn Thị B1 mượn.
Bị đơn ông Phạm Văn T trình bày: Bà Kiều chơi hụi và vay tiền của bà Lê Thị B từ khi nào thì ông không biết. Ông chỉ biết bà K nợ tiền hụi và nợ tiền vay của bà Lê Thị B cách đây khoảng 06 tháng là do bà B nói cho ông biết. Qua đơn khởi kiện và yêu cầu của bà Lê Thị B, thì ông không đồng ý cùng bà K chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà Lê Thị B 304.500.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh. Vì bà K vay tiền và chơi hụi với bà Lê Thị B, hiện còn thiếu nợ là do bà K và bà Nguyễn Thị B1, còn ông T thì hoàn toàn không biết và không sử dụng số tiền trên để trả nợ xây nhà, cũng như mua sắm đồ dùng trong gia đình. Ông thừa nhận vợ chồng ông đã xây nhà ở từ năm 2013 từ tiền gia đình tiết kiệm được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 trình bày: Bà không trực tiếp vay và chơi hụi với bà Lê Thị B, mà nhờ bà K đứng ra chơi hụi và vay tiền của bà Lê Thị B là do bà ở xa. Việc nhờ chơi hụi và vay tiền này thì bà Nguyễn Thị B1 với bà K chỉ thỏa thuận miệng với nhau nên không có văn bản, giấy tờ nào chứng minh. Số tiền nợ 304.500.000 đồng đã ghi nhận ở trên là nợ của chính bà. Bà cũng đồng ý trả cho bà B1 nhưng xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi trả xong nợ. Do số tiền nợ nói trên không liên quan đến bà K và ông T, vì bà Nguyễn Thị B1 chỉ nhờ bà K đứng ra hỏi vay tiền và chơi hụi giùm. Còn tiền lãi phát sinh thì xin bà Lê Thị B xem xét miễn cho bà Nguyễn Thị B1, do có gia cảnh khó khăn.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 09/2024/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích K và ông Phạm Văn T chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị B 324.500.000 đồng {ba trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng (trong đó có 304.500.000 đồng nợ gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi phát sinh từ ngày 07-7-2023 đến ngày 07-3-2024)}.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Bích K và ông Phạm Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
* Về tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả 7.612.000 đồng (bảy triệu sáu trăm mười hai ngàn đồng) tạm ứng án phí cho bà Lê Thị B. Theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006922 ngày 30-8-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Bích K và ông Phạm Văn T cùng phải chịu 16.225.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích K, ông Phạm Văn T đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lê Thị B trình bày: Bà đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên. Bà yêu cầu ông Phạm Văn T cùng liên đới trà nợ cùng bà Nguyễn Thị Bích K. Bà không đồng ý bà Nguyễn Thị B1 trả nợ cho bà.
Bà Nguyễn Thị Bích K yêu cầu cá nhân bà trả số tiền trên. Chồng bà là ông Phạm Văn T không liên quan trong vụ này. Bà yêu cầu sửa bản án sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị B1 thừa nhận bà nhờ bà K vay tiền và chơi hụi dùm bà. Bà kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm buộc bà trả số tiền trên. Bà K và ông T không liên quan về tiền hụi và tiền vay trên của bà Lê Thị B.
Anh Trần Tuấn M đại diện ủy quyền của ông Phạm Văn T trình bày: Ông T không tham gia chơi hụi, không vay tiền của bà Lê Thị B. Ông T không ký tên và không thừa nhận có giao dịch tiền với bà B. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và sửa bản án sơ thẩm trên theo yêu cầu kháng cáo của ông.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Phạm Văn T liên đới cùng bà Nguyễn Thị Bích K trả số nợ tiền vay và tiền hụi cho bà Lê Thị B là chưa đủ cơ sở vì: Ông T không tham gia chơi hụi, không vay tiền của nguyên đơn giữa ông T và nguyên đơn cũng không có biên nhận. Do đó, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bà K có trách nhiệm trả số tiền tiền trên cho bà Lê Thị B. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, ông T không phải trả tiền cho bà B. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B1. Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Sửa một phần bản án dân sự theo hướng đã phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp nợ hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 là trong hạn luật định nên được xem xét.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Bà Nguyễn Thị Bích K có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà B1 làm chủ hụi. Bà K chơi hụi từ ngày 04/12/2020 (tức ngày 20- 10- C) đến ngày 27/01/2023 (tức ngày 06- 01- Quý Mão) thì nghỉ chơi. Qua đối chiếu xổ sách thì bà K thừa nhận còn nợ bà B1 tiền vay và hụi (kể cả tiền mượn 01 chỉ vàng quy ra tiền là 5.500.000 đồng) là 304.500.000 đồng. Bà K đồng ý cá nhân bà trả không đồng ý chồng bà liên đới cùng bà trả. Bà Nguyễn Thị B1 cho rằng số tiền vay và hụi trên là tiền vay của bà và hụi là nhờ bà K chơi giùm chứ không phải của bà K. Bà đồng ý trả cho bà Lê Thị B số nợ trên. Ông Phạm Văn T không đồng ý trả vì cá nhân không vay mượn, không tham gia chơi hụi nên không biết được nợ nần giữa bà B và bà K.
Qua xem xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Lúc tham gia chơi hụi thì bà K hốt hụi xây nhà, trả nợ, mua sắm vật dụng trong nhà. Ngoài số tiền hụi bà K còn thiếu 128.000.000 đồng, 01 chỉ vàng 24K (quy đổi ra tiền là 5.500.000 đồng) thì bà K còn nợ tiền vay là 171.000.000 đồng. Căn cứ vào tờ: “Biên nhận nợ” ngày 07/07/2023 (bút lục 08) thì bà Nguyễn Thị Bích K thừa nhận nợ bà Lê Thị B tiền hụi, tiền vay là 304.500.000 đồng. Đây chứng cứ được hai bên thừa nhận tại Công an huyện V nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị Bích K trả số tiền trên là có căn cứ.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Phạm Văn T cùng liên đới trả số nợ trên cùng bà K là không có cơ sở vì không có chứng cứ chứng minh ông T cùng tham gia chơi hụi hay cùng tham gia vay tiền của bà Lê Thị B. Ông T không thừa nhận và ông không có ký tên vào giấy tờ vay tiền hay tham gia chơi hụi cùng bà K. Mặc khác chính bà Nguyễn Thị B1 là em của bà K cũng thừa nhận là bà K vay số tiền trên cùng tiền hụi là giao cho bà số tiền này. Vì vậy, sửa một phần bản án sơ thẩm đã tuyên. Ông T không có trách nhiệm liên đới trả số tiền trên.
[3] Về yêu cầu trả tiền lãi phát sinh. Do nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận lãi suất nên tính theo quy định định là lãi suất 10%/năm.
Và mức lãi suất được xem xét chấp nhận là 10%/năm nên số tiền nợ 304.500.000 đồng, tính từ ngày 07-7-2023 đến ngày 07-3-2024 có số tiền lãi là 20.000.000 đồng [nguyên đơn tự nguyện lấy tròn số 20.300.000 đồng = {304.500.000 đồng x 10%/năm x 08 tháng (ngày 07-7-2023 đến ngày 07-3-2024)}]. Vậy số tiền lãi bà K chịu trách nhiệm trả cho bà Lê Thị B là 20.000.000 đồng tính ngày 07-7-2023 đến ngày 07-3-2024 và khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
[4] Xét đơn kháng cáo bà Nguyễn Thị B1 nhận thấy: Bà B1 đồng ý chịu trách nhiệm trả 304.500.000 đồng nói trên cho bà Lê Thị B. Hội đồng xét xử nhận thấy không đủ cơ sở do biên nhận thừa nhận nợ tại Cơ quan công an thì bà K thừa nhận nợ với bà Lê Thị B. Bà Lê Thị B cũng không yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 phải trả nợ. Do đó, bà Nguyễn Thị B1 tự nguyện nhưng nguyên đơn không đồng ý và không có chứng cứ chứng minh bà Nguyễn Thị B1 nợ tiền bà Lê Thị B. Còn bà K cho rằng bà cho bà Nguyễn Thị B1 vay lại số tiền nói trên nhưng bà K không có yêu cầu gì đối với bà Nguyễn Thị B1. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét giải quyết trong vụ án này; nếu cần thì bà K có thể khởi kiện bà Nguyễn Thị B1 bằng một vụ án khác và sẽ được xem xét giải quyết sau.
[5] Về tiền án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lê Thị B được nhận lại 7.612.000 đồng tiền tạm ứng án (bảy triệu sáu trăm mười hai ngàn đồng) phí theo Biên lai thu số: 0006922 ngày 30/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Bích K phải chịu 16.225.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
[6] Về tiền án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị B1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006921 ngày 20/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ thành tiền án phí, bà Nguyễn Thị B1 đã nộp đủ.
Bà Nguyễn Thị Bích K được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006922 ngày 20/3/2024 tại chi cục thi hành án huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
Ông Phạm Văn T được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006923 ngày 20/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26, Điều 35, Điều 91, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn T. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích K. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
* Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích K chịu trách nhiệm trả cho bà Lê Thị B 324.500.000 đồng (ba trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng (trong đó có 304.500.000 đồng nợ gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi phát sinh từ ngày 07-7-2023 đến ngày 07-3-2024)..
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Bích K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
* Về tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lê Thị B được nhận lại 7.612.000 đồng (bảy triệu sáu trăm mười hai ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: 0006922 ngày 30/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Bích K phải chịu 16.225.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
* Về tiền án phí phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị B1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006921 ngày 20/3/2024 tại chi cục thi hành án huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ thành tiền án phí bà Nguyễn Thị B1 đã nộp đủ.
Bà Nguyễn Thị Bích K được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006922 ngày 20/3/2024 tại chi cục thi hành án huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
Ông Phạm Văn T được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006923 ngày 20/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 297/2024/DS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi
- Số bản án: 297/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị B - Nguyễn Thị Bích K, Phạm Văn T - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi
