|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 297/2024/HS-PT Ngày 08 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thế Phương;
Ông Trần Phương Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trường D và Nguyễn Nam P; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 129/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Trường D, sinh năm 1982 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1957 và bà Vũ Thị Kim P1, sinh năm 1960; có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc S (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-8-2023 đến ngày 11-8-2023 được tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Nam P, sinh năm 1996 tại tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1971 và bà Trần Thị P2, sinh năm 1972; có vợ tên Trần Thảo V1 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/10/2014, bị Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 56/QĐ-XPVPHC về hành vi “Đánh nhau” bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng; ngày 15/10/2014 đã nộp phạt theo quyết định; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-8-2023 đến ngày 08-8-2023 được tại ngoại; vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 02/8/2023, Nguyễn Trường D (có giấy phép lái xe hạng D) điều khiển xe ô tô khách biển số 51B-258.16 lưu thông trên làn đường xe cơ giới thuộc phần đường bên phải Quốc lộ A theo hướng thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận. Cùng lúc này, Nguyễn Nam P (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60H-102.14 lưu thông cùng chiều, cùng làn đường phía sau xe ô tô biển số 51B-258.16. Khi lưu thông đến Km 1804+400m Quốc lộ A thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trường D quan sát cùng chiều, cùng làn đường phía trước có 01 xe ô tô con loại 04 chỗ và 01 xe ô tô khách loại xe giường nằm (cùng màu đỏ, không xác định được biển số và người điều khiển) đang lưu thông với tốc độ chậm, còn làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ A theo hướng đi không có người và phương tiện lưu thông nên Nguyễn Trường D đã bật đèn tín hiệu xi nhan bên trái rồi điều khiển xe ô tô chuyển sang làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ A theo hướng đi để vượt 02 xe ô tô nêu trên. Nguyễn Nam P khi thấy Nguyễn Trường D điều khiển xe vượt xe khác cũng điều khiển xe ô tô biển số 60H-102.14 bám đuôi xe ô tô khách biển số 51B-258.16 để vượt theo (khoảng cách 15m). Quá trình vượt xe, Nguyễn Trường D quay lại để nói chuyện với khách nên không thấy xe mô tô biển số 60H5-270.78 do ông Phạm Viết N điều khiển chở ông Đặng Văn M đang lưu thông cùng chiều phía trước trên làn đường xe cơ giới bên phải Quốc lộ A (gần vạch tim đường) nên không kịp tránh, đã để phần bên phải xe ô tô biển số 51B-258.16 va chạm vào phần bên trái xe mô tô biển số 60H5-270.78. Sau va chạm, xe mô tô biển
số 60H5-270.78 cùng ông N và ông M ngã xuống đường, trên làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ A theo hướng lưu thông thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận. Do Nguyễn Nam P bị khuất tầm nhìn khi vượt xe không đảm bảo an toàn nên không thấy xe mô tô biển số 60H5-270.78 bị ngã sau va chạm với xe ô tô khách biển số 51B-258.16 nên đã để xe ô tô biển số 60H-102.14 va chạm với xe mô tô biển số 60H5-270.78 cùng ông N và ông M, gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông Phạm Viết N và ông Đặng Văn M chết tại chỗ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại Km 1804 + 400m Quốc lộ A thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là đoạn đường thẳng, trải nhựa bằng phẳng. Đường được phân chia thành 02 chiều xe lưu thông ngược chiều nhau bằng vạch đứt nét màu vàng (tim đường), mỗi phần đường rộng 06m. Mỗi phần đường có vạch sơn đứt nét màu trắng (vạch phân làn) chia phần đường thành làn đường dành cho xe cơ giới (rộng 3,5m) và làn đường dành cho xe thô sơ (rộng 2,5m). Chọn tim đường làm vạch chuẩn, hướng lưu thông thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận là hướng chuẩn. Trụ điện ký hiệu 482-477 XP/158B là điểm mốc hiện trường và mô tả như sau:
Tại phần đường xe cơ giới phía bên trái ghi nhận dấu vết phanh dài 29m, đầu vết phanh cách vạch chuẩn 1,3m và cách điểm mốc về hướng thành phố Hồ Chí Minh là 11m, cuối vết phanh tại trục bánh xe thứ ba phía sau bên trái. Trên làn đường xe cơ giới phía bên trái khoảng cách 9,8m ghi nhận tổ hợp đồng hồ của nạn nhân, tâm cách vạch chuẩn 0,8m; ở vị trí song song trên làn đường xe cơ giới bên phải ghi nhận đầu vết phanh lốp bánh sau thứ ba bên phải của xe ô tô biển số 60H-102.14 dài 20m, cuối vết phanh tại vị trí xe dừng. Liên tục về hướng đi tỉnh Bình Thuận trên làn đường xe cơ giới bên trái ghi nhận tổ hợp dép, thịt người, nón khoảng cách 11,2m, tâm dấu vết cách vạch chuẩn 0,7m. Trên làn đường xe cơ giới bên phải về hướng tỉnh Bình Thuận ghi nhận tổ hợp dép, thịt người khoảng cách 3,8m, tâm dấu vết cách vạch chuẩn 02m. Liên tục về hướng thành phố Hồ Chí Minh trên làn đường xe cơ giới phía bên phải khoảng cách 0,9m ghi nhận tổ hợp dép, phổi người, tâm dấu vết cách vạch chuẩn 03m. Trên làn đường xe cơ giới bên phải về hướng tỉnh Bình Thuận ghi nhận vết cày dài 29,4m, không liên tục, đầu vết cày cách vạch chuẩn 0,2m, đuôi vết cày tại vị trí xe mô tô biển số 60H5-270.78 nằm.
Tại vị trí xe ô tô tải biển số 60H-102.14 dừng sau tai nạn ghi nhận nạn nhân Phạm Viết N đã tử vong, đầu nạn nhân cách vạch chuẩn 1,8m, chân nạn nhân cách vạch chuẩn 1,8m. Dưới gầm xe ô tô tải biển số 60H-102.14 ghi
nhận tử thi nạn nhân Đặng Quang M1, chân nạn nhân cách vạch chuẩn 1,6m và cách chân tử thi nạn nhân Phạm Viết N về hướng thành phố Hồ Chí Minh khoảng cách 01m, đầu nạn nhân cách vạch chuẩn 0,7m và cách trục trước bên trái xe ô tô biển số 60H-102.14 khoảng cách 1,5m. Trục trước bên trái xe ô tô biển số 60H-102.14 cách vạch chuẩn 0,85m và cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60H5-270.78 nằm dưới gầm xe ô tô tải 60H-102.14 khoảng cách 0,7m. Trục bánh trước xe mô tô cách vạch chuẩn 2,9m, trục bánh sau cách vạch chuẩn 2,4m.
Trên phần đường xe cơ giới phía bên phải ghi nhận mảnh vỡ của vỏ bánh trước xe mô tô biển số 60H5-270.78, tâm dấu vết cách vạch chuẩn 2,6m và cách trục bánh trước xe ô tô biển số 60H-102.14 về hướng thành phố Hồ Chí Minh là 05m. Liên tục về hướng tỉnh Bình Thuận trên phần đường xe cơ giới bên phải ghi nhận mảnh vỡ gương chiếu hậu của xe mô tô biển số 60H5-270.78, tâm cách vạch chuẩn 3,1m.
Trong lề đất bên phải ghi nhận xe ô tô khách biển số 51B-258.16, trục bánh trước bên trái cách vạch chuẩn 6,6m, trục bánh sau bên trái cách vạch chuẩn 6,7m và cách trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số 60H-102.14 về hướng thành phố Hồ Chí Minh khoảng cách 62m.
Kết quả khám phương tiện:
- Đối với xe ô tô biển số 60H-102.14: Mặt ngoài lốp bánh xe trước thứ nhất bên trái có vết máu phạm vi (0,6 x 0,2)m, tâm vết máu cách trục bánh xe 0,4m; Nắp bảo vệ trục bánh trước thứ nhất bên trái bằng kim loại có vết móp phạm vi (0,25 x 0,05)m, tâm dấu vết cách trục bánh 0,2m; Lốp bánh sau thứ ba bên trái có vết máu, ma sát cao su kéo dài; Vè chắn bùn bánh sau thứ ba bên trái có vệt máu phạm vi (1,33 x 0,3)m.
- Đối với xe ô tô biển số 51B-258.16: Mặt ngoài lốp bánh xe trước bên phải có vết ma sát cao su phạm vi (0,47 x 0,07)m, tâm dấu vết cách van bơm 0,45m; Thân xe bên phải có vết ma sát, bám dính cao su phạm vi (0,35 x 0,01)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,63m; Thân xe bên phải có vết tróc sơn phạm vi (0,2 x 0,05)m, tâm dấu vết cách mặt đất 1,05m; Thân xe bên phải có vết sơn bám dính phạm vi (1,55 x 0,01)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,95m; Thân xe bên phải có vết tróc sơn phạm vi (0,2 x 0,01)m, tâm dấu vết cách mặt đất 1,2m; Mặt ngoài lốp bánh xe sau bên phải có vết ma sát cao su phạm vi (0,27 x 0,03) m, tâm dấu vết cách van bơm 0,25m; vết ma sát cao su phạm vi
(0,25 x 0,03) m, tâm dấu vết cách van bơm 0,375m; vết ma sát cao su phạm vi (0,52 x 0,07) m, tâm dấu vết cách van bơm 0,57m.
- Đối với xe mô tô biển số 60H5-270.78: Yếm chắn gió bên trái có vết ma sát mài mòn nhựa, bể nứt tại vị trí và dính chất nhầy màu đen phạm vi (0,47 x0,1)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,4m; Gác chân trước bên trái bị đầy cong từ dưới lên trên 0,1m so với ban đầu, đầu gác chân có vết ma sát mài mòn kim loại và cao su phạm vi (0,01 x 0,01)m; Đầu tay lái trái có vết ma sát cao su phạm vi (0,01 x 0,02)m, tâm dấu vết cách mặt đất 1,02m; Dè chắn bùn sau bị xô lệch từ phải qua trái 0,05m so với vị trí ban đầu, tâm dấu vết cách mặt đất 0,45m; Ốp nhựa hông phải xe có dấu vết ma sát mủ nhựa phạm vi (0,25 x 0,1)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,65m và cách đuôi xe 0,85m; Ống xả bị đẩy cong từ dưới lên trên, từ sau về trước 0,7m so với vị trí ban đầu, đầu ống xả bị biến dạng phạm vi (0,2 x 0,1)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,47m; Gương chiếu hậu bên trái bung bể rời khỏi vị trí; Ốp nhựa bảo vệ đèn tín hiệu xi nhan bên trái bể, có dấu vết ma sát mủ nhựa phạm vi (0,15 x 0,07)m, tâm dấu vết cách mặt đất 1,01m; Ốp mủ nhựa bảo vệ cụm đồng hồ tốc độ bể, nứt tại vị trí phạm vi (0,1 x 0,04)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,8m; Gương chiếu hậu bên phải bể rời khỏi vị trí, tâm dấu vết cách mặt đất 1,04m; Đuôi vè chắn bùn trước bể rời khỏi vị trí, tâm dấu vết cách mặt đất 0,52m; Đầu trục bánh trước bên trái có vết ma sát mài mòn kim loại phạm vi (0,02 x 0,02)m, tâm dấu vết cách mặt đất 0,28m.
Kết quả giám định pháp y về tử thi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 327/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 11/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với ông Đặng Quang M1, kết luận:
Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương. Chấn thương mặt gây vỡ trần hốc mắt trái, gãy xương hàm trên, xương hàm dưới. Chấn thương ngực bụng gây gãy gần hoàn toàn xương ức, xương sườn, gãy đứt rời cột sống ngực, dập nát hoàn toàn các tạng trong lồng ngực và ổ bụng ra ngoài. Kết hợp gãy xương cánh tay phải nhiều đoạn.
Kết luận khác: Không tìm thấy cồn và các chất ma túy trong máu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 328/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 11/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với ông Phạm Viết N, kết luận:
Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương. Chấn thương sọ não gây vỡ hộp sọ phức tạp, rách màng cứng, dập não. Chấn thương mặt gây gãy toàn bộ xương hàm mặt hai bên. Chấn thương ngực gây gãy xương sườn hoàn toàn cung bên trái. Kết hợp chấn thương gãy cổ xương đùi phải.
Kết luận khác: Không tìm thấy cồn và các chất ma túy trong máu.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy, chất kích thích mạnh bị cấm trong cơ thể Nguyễn Trường D và Nguyễn Nam P.
- Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong cơ thể: 0.000mg/L.
- Kết quả xét nghiệm ma túy, các chất kích thích mạnh: Âm tính.
Kết quả giám định an toàn kỹ thuật.
Tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô khách biển số 51B-258.16; xe ô tô ben biển số 60H-102.14 và xe mô tô biển số 60H5-270.78 trước, trong và sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ thì không thể xác định được. Lý do: Không có căn cứ.
Tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô khách biển số 51B-258.16; xe ô tô ben biển số 60H-102.14 tại thời điểm kiểm tra: Phương tiện không hư hỏng, hoạt động bình thường.
Hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn chiếu sáng tín hiệu hoạt động bình thường; các đường ống dẫn động khí nén của hệ thống phanh không xì lủng, các bầu phanh tại các bánh xe hoạt động bình thường.
Lốp xe: Lốp xe không bị chém sứt, không bị nứt, chiều cao hoa lốp còn nằm trong giới hạn của nhà sản xuất, sử dụng an toàn.
Động cơ hoạt động bình thường, khung gầm và hệ thống truyền lực chắc chắn.
Tình trạng an toàn kỹ thuật của xe mô tô biển số 60H5-270.78 tại thời điểm kiểm tra: ốp nhựa chụp đèn chiếu sáng trước bung mối lắp ghép; gác chân và cần sang số cong vênh; gương quan sát sau hư hỏng; ống xả khí thải gẫy rời, biến dạng; một số nan hoa bánh trước bị gãy, bánh trước và bánh sau bị bó kẹt; Phương tiện hư hỏng và không còn hoạt động.
Hệ thống phanh: Phanh trước loại cơ khí, dẫn động phanh bằng cáp kéo; phanh sau loại cơ khí, dẫn động phanh bằng thanh kéo; phanh trước và phanh sau hoạt động bình thường.
Hệ thống lái: Càng lái cân đối, điều khiển nhẹ nhàng, lắp đặt chắc chắn với trục lái. Giảm chấn của càng lái hoạt động tốt. Trục lái không có độ rơ dọc trục và độ rơ hướng kính. Góc quay lái sang bên phải và sang trái bằng nhau và có cơ cấu hạn chế hành trình của gọc quay lái; các chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí và chắc chắn.
Vỏ lốp: lốp xe không bị chém sứt, không bị nứt, chiều cao hoa lốp còn nằm trong giới hạn của nhà sản xuất, sử dụng an toàn.
Hệ thống đèn chiếu sáng, tín hiệu: còn đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí và chắc chắn.
Điểm va chạm trên phương tiện: Phần bên phải xe ô tô khách biển số 51B-258.16 với phần bên trái xe mô tô biển số 60H5-270.78. Trục ngang bánh trước xe ô tô biển số 60H-102.14 với bên phải xe mô tô biển số 60H5-270.78.
Điểm va chạm trên đường: Điểm va chạm giữa xe ô tô khách biển số 51B-258.16 với xe mô tô biển số 60H5-270.78 trên làn đường xe cơ giới bên trái và điểm va chạm giữa xe ô tô biển 60H-102.14 với xe mô tô biển số 60H5-270.78 trên làn đường xe cơ giới bên trái (tính theo hướng từ thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận) tại Km 1804 + 400m Quốc lộ A, thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) DVD lưu trữ dữ liệu camera ghi nhận quá trình xảy ra vụ tai nạn giao thông, được trích xuất từ dữ liệu hành trình xe ô tô tải biển số 60H-102.14; 01 (một) giấy phép lái xe hạng D số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 16/11/2021 cho Nguyễn Trường D, có giá trị đến ngày 16/11/2026; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 09/3/2022 cho Nguyễn Nam P, có giá trị đến ngày 09/3/2027; 01 (một) xe ô tô khách biển số 51B-258.16 do Công ty TNHH X, trụ sở tại số A Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) là chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại ô tô trên cho anh Tăng C Q, sinh năm 1984, trú tại ấp B, xã X, X, tỉnh Đồng Nai là người đại diện theo ủy quyền; 01 (một) xe ô tô tải biển số 60H-102.14 do chị Lê Thị Phương T, sinh năm 1973, trú tại ấp C, xã X, X, tỉnh Đồng Nai là chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại ô tô trên cho chị Lê Thị Phương T.
01 (một) xe mô tô biển số 60H5-270.78 do anh Phạm Minh K, sinh năm 1985, trú tại ấp B, xã X, X, tỉnh Đồng Nai (con ruột của ông Phạm Viết N) là
chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho anh Phạm Minh K.
- Về trách nhiệm dân sự:
Nguyễn Nam P và chủ xe ô tô tải biển số 60H-102.14 đã thỏa thuận về dân sự đối với gia đình nạn nhân Phạm Viết N với số tiền 120.000.000 đồng và gia đình nạn nhân Đặng Quang M1 với số tiền 126.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của nạn nhân Phạm Viết N và nạn nhân Đặng Quang M1 đã nhận đủ số tiền nêu trên, đã có đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau đối với Nguyễn Nam P.
Nguyễn Trường D và chủ xe ô tô khách biển số 51B-258.16 đã thỏa thuận về dân sự đối với gia đình nạn nhân Phạm Viết N với số tiền 90.000.000 đồng và gia đình nạn nhân Đặng Quang M1 với số tiền 94.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của nạn nhân Phạm Viết N và nạn nhân Đặng Quang M1 đã nhận đủ số tiền nêu trên, đã có đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau đối với Nguyễn Trường D.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường D và bị cáo Nguyễn Nam P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường D 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 11/8/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam P 06 (sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 08/8/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Ngày 30-01-2024, các bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, người nhà bị cáo Nguyễn Nam P có nộp đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị sốt nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh kèm theo đơn nên căn cứ Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
Về hình phạt: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, lỗi gây ra tai nạn trong vụ án hoàn toàn là do bị cáo. Mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu; các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặt biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nam P có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị sốt nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh kèm theo đơn nên việc vắng mặt của bị cáo không phải do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Trong vụ án còn có kháng cáo của bị cáo khác và không có kháng nghị tăng nặng hình phạt của Viện kiểm sát; căn cứ Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị cáo Nguyễn Nam P là có căn cứ, đúng quy định.
[2] Về nội dung:
2.1. Về nhân thân, lí lịch của bị cáo:
Theo hồ sơ ở án sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Trường D có cha tên “Nguyễn Quang V2”; tuy nhiên, D1 bản của bị cáo xác định cha tên “Nguyễn
Văn V”, tại phiên tòa bị cáo cũng khai tên cha từ trước đến nay là “Nguyễn Văn V”. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm đính chính phần nhân thân lí lịch của bị cáo D để phù hợp về đảm bảo việc thi hành hình phạt.
2.2. Về tội danh:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm nhận định, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
2.3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Tại cấp sơ thẩm: Áp dụng cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; người đại diện theo pháp luật của các bị hại đã có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự cho bị cáo; bị cáo D gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình có công với cách mạng; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới.
2.4. Về kháng cáo và hình phạt:
Các bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng lỗi gây tai nạn hoàn toàn là do các bị cáo có hành vi vượt xe không đảm bảo điều kiện an toàn. Bị cáo D điều khiển xe ô tô va quẹt với xe mô tô của bị hại là nguyên nhân gây ra tai nạn; bị cáo P là người điều khiển xe ô tô vượt phía sau không đảm bảo an toàn, không đảm bảo khoảng cách gây tai nạn trực tiếp hậu quả làm 02 người chết được đánh giá là nghiêm trọng. Hình phạt Tòa án sơ thẩm tuyên là phù hợp, cân nhắc vai trò, nhân thân của các bị cáo không nặng như kháng cáo nêu. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung
cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên về hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lí sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Trường D, Nguyễn Nam P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường D và Nguyễn Nam P; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc về hình phạt đối với các bị cáo.
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường D và Nguyễn Nam P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Trường D 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù; nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 11/8/2023.
Bị cáo Nguyễn Nam P 06 (sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù; nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 08/8/2023.
2. Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Trường D, Nguyễn Nam P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 297/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 297/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
