Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2024/DS-PT

Ngày: 06 – 8 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung;

Bà Đinh Cẩm Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị M - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 149/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2024/DSST ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 197/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm: 1960; Cư trú tại: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T1, sinh năm: 1987; Cư trú tại: Số D, đường N, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Cẩm L, sinh năm 1990; Cư trú: Số D, đường N, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bé T – Là Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Bé T trình bày:

Vào ngày 22/6/2023 dương lịch, ông Nguyễn Trung T1 có đến nhà tôi vay số tiền 500.000.000đ, ông T1 có ghi “Hợp đồng vay tiền có thế chấp quyền sử

dụng đất gắn liền nhà ở”, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 03 tháng và ông T1 có đưa cho tôi bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CN QSDĐ). Đến ngày 25/6/2023, ông T1 tiếp tục đến vay thêm của tôi 300.000.000đ và có ghi “Biên nhận”, lãi suất 2%/tháng và thời hạn vay cũng là 03 tháng. Tổng cộng hai khoản vay là 800.000.000đ. Khi vay ông T1 nói để mua đất, tuy nhiên thời hạn vay đã đến, tôi có liên hệ nhiều lần nhưng ông T1 không trả mà cứ hẹn lần hẹn lượt. Nay tôi khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà L phải trả cho tôi số tiền vốn 800.000.000đ và lãi tạm tính từ ngày 25/6/2023 đến ngày 25/9/2023 là 3 tháng, lãi suất 2%/tháng với số tiền 48.000.000đ. Tổng vốn và lãi là 848.000.000đ và tính lãi đến ngày xét xử. Tại phiên tòa, bà Bé T yêu cầu ông T1 và bà L trả cho bà số tiền vay 800.000.000đ và lãi theo lãi suất nhà nước tính từ ngày 25/6/2023 đến ngày xét xử là 09 tháng 15 ngày nhân với lãi suất 1,66%/tháng, số tiền lãi là 126.160.000đ. Tổng cộng vốn và lãi ông T1 và bà L phải trả là 926.160.000đ và đồng ý trả lại cho ông T1, bà L Giấy CN QSDĐ khi khoản nợ đã được thanh toán xong.

Tại Bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Trung T1 trình bày: Vào ngày 22/6/2023 dương lịch, tôi có nhờ anh Nguyễn Thanh H, địa chỉ ở U giới thiệu tôi đến vay của cô T số tiền 250.000.000đ, lãi suất 5%/tháng nhưng cô T kêu tôi ghi lãi suất 2% và ghi số tiền vay là 500.000.000đ. Do tôi cần vốn nên đồng ý với yêu cầu của cô T và tôi ghi “Hợp đồng vay tiền có thế chấp quyền sử dụng đất gắn liền nhà ở” và có đưa Giấy CN QSDĐ bản chính cho cô T giữ. Đến ngày 25/6/2023, tôi có đến vay thêm của cô T 150.000.000đ, lãi suất cũng là 5%/tháng, nhưng cô T vẫn bắt tôi ghi 300.000.000đ, lãi suất 2% và tôi cũng đồng ý ghi “Biên nhận” đưa cho cô T giữ. Tổng cộng tôi vay của cô T hai lần chỉ 400.000.000đ và chưa trả khoản lãi nào. Chữ ký trong Hợp đồng vay tiền ngày 22/6/2023 và Biên nhận ngày 25/6/2023 là do tôi ghi và ký tên. Tuy nhiên ghi theo yêu cầu của cô T. Nay tôi chỉ đồng ý trả cô T số tiền 400.000.000đ tiền vốn và 60.000.000đ tiền lãi (theo lãi suất thỏa thuận 5%/tháng), tổng cộng là 460.000.000đ. Việc tôi vay tiền để làm ăn kinh doanh bất động sản, không có liên quan đến vợ tôi là bà Trần Cẩm L nên không đồng ý bà L có trách nhiệm trả nợ. Bà L có hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nhưng hiện bà L đã đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc (địa chỉ cụ thể tôi sẽ cung cấp sau), trước khi đi thì bà L sống cùng tôi tại số D, đường N, khóm G, phường H, thành phố C. Hiện tôi và bà L vẫn là vợ chồng, chưa ly hôn.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Cẩm L, quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Trung T1 trình bày đi nước ngoài nhưng không cung cấp địa chỉ của bà L ở nước ngoài theo yêu cầu của Tòa án nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, Tòa án xác định địa chỉ của bà Lụa 1 nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam theo lời trình bày của ông Nguyễn Trung T1 là tại số D, đường N, khóm G, phường H, thành phố C và Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định và triệu tập bà L đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng bà L vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2024/DSST ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé T.
  2. Buộc ông Nguyễn Trung T1 trả cho bà Nguyễn Thị Bé T số tiền 926.160.000 đồng.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu bà L cùng có trách nhiệm trả nợ với ông T1.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Bé T về việc trả lại cho ông Nguyễn Trung T1 và bà Trần Cẩm L Giấy CN QSDĐ số CN 920339, đứng tên ông T1, bà L khi ông T1 thanh toán xong khoản nợ trên.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 24/4/2024 bà Nguyễn Thị Bé T kháng cáo, yêu cầu buộc bà Trần Cẩm L có nghĩa vụ cùng với ông Nguyễn Trung T1 trả nợ cho bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn đã nộp đúng thời hạn luật định. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bà Nguyễn Thị Bé T yêu cầu bà L cùng có trách nhiệm với ông T1 thanh toán nợ vì khi ông T1 đến gặp bà T vay tiền có đưa Giấy chứng nhận kết hôn, Hợp đồng ủy quyền của bà L cho ông T1 được công chứng ngày 17/02/2023 và Giấy CN QSDĐ đứng tên ông T1, bà L. Xét thấy mặc dù ông T1 và bà L đang là quan hệ vợ chồng nhưng tại Hợp đồng vay ngày 22/6/2023 và Biên nhận ngày 25/6/2023 đều chỉ do ông T1 ký tên. Đồng thời tại Văn bản số 553/QLXNC ngày 19/12/2023 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh thể hiện bà Trần Cẩm L xuất cảnh ngày 19/02/2023 và chưa có thông tin nhập cảnh nên thời điểm vay là ngày 22 và 25 tháng 6 năm 2023 thì bà L không có mặt tại Việt Nam. Bà Bé T cung cấp Hợp đồng ủy quyền

3

của bà L nhưng nội dung ủy quyền thể hiện bà L ủy quyền cho ông T1 để định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, không phải ủy quyền đi vay tiền. Việc bà B T trình bày bà L có điện thoại với bà xác minh khoản vay nhưng bà không có cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng đây là nợ chung của ông T1 và bà L và yêu cầu bà L cùng có trách nhiệm thanh toán nợ vay cho bà là không có căn cứ, cấp sơ thẩm xác định bà L không liên quan đến khoản nợ giữa ông T1 và bà T là đúng.

Do đó, kháng cáo của bà T không được chấp nhận. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.

[3] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Nguyễn Trung T1 phải chịu là 39.784.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Bé T được miễn (đã được miễn dự nộp).

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé T.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Nguyễn Trung T1 trả cho bà Nguyễn Thị Bé T số tiền 926.160.000 đồng (trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng và lãi là 126.160.000 đồng).

    Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Bé T có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Trung T1 không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé T về việc yêu cầu bà Trần Cẩm L cùng có trách nhiệm trả nợ với ông Nguyễn Trung T1.

4

  1. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Bé T về việc trả lại cho ông Nguyễn Trung T1 và bà Trần Cẩm L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 920339, số vào sổ cấp giấy chứng nhận là CS09381 đứng tên ông T1, bà L khi ông T1 thanh toán xong khoản nợ trên.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Nguyễn Trung T1 phải chịu là 39.784.000 đồng (ba mươi chín triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng).

    Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Bé T được miễn.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Cao Khánh

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

Đỗ Cao Khánh

Đinh Cẩm Đào

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 297/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 297/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp số tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger