TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 297/2025/DS-PT Ngày: 27-6-2025. V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
- Ông Trần Quốc Vũ;
- Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 24-4-2025, của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 227/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị K là bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Vương Sơn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 25/10/2024); có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (văn bản ủy quyền ngày 04/12/2024); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên ông Vương Sơn H trình bày:
Bà K có tham gia 05 dây hụi do bà N làm thảo hụi, cụ thể như sau:
Dây thứ nhất: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 25/2/2023 (AL) gồm 26 phần. Bà K tham gia 02 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt lần 1 vào ngày 25/3/2023 với số tiền là 188.000.000 đồng; hốt lần 2 vào ngày 30/4/2023 với số tiền với là 183.680.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, từ kỳ 19. Dây hụi này bà K còn nợ lại 07 kỳ hụi chết là với số tiền là 140.000.000 đồng (hụi mãn ngày 25/3/2025); Dây thứ hai: Hụi 5.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 10/7/2023 (AL) gồm 21 phần. Bà K tham gia 2 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt lần 1 vào ngày 14/8/2023 với số tiền là 76.200.000 đồng; hốt lần lần 2 vào ngày 14/8/2024 với số tiền là 89.000.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, từ kỳ 14. Dây hụi này bà K còn nợ lại 07 kỳ hụi chết là với số tiền là 70.000.000 đồng (hụi mãn ngày 10/3/2025); Dây thứ ba: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 10/9/2023 (AL) gồm 18 phần. Bà K tham gia 01 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt vào ngày 14/12/2023 với số tiền là 135.800.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, ngưng đóng từ kỳ 12. Dây hụi này bà K còn nợ lại 06 kỳ hụi chết với số tiền là 60.000.000 đồng (hụi mãn ngày 10/02/2025); Dây thứ tư: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 05/8/2024 (AL) gồm 22 phần bà K tham gia 03 phần đã hốt 02 phần còn 01 phần hụi sống. Cụ thể: hốt lần 1 vào ngày 05/8/2024 với số tiền là 157.600.000 đồng; hốt lần 2 vào ngày 05/9/2024 với số tiền với là 160.000.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, ngưng đóng từ kỳ 03. Dây hụi này bà K còn nợ lại 20 kỳ hụi chết với số tiền là 400.000.000 đồng. Còn 01 kỳ hụi sống bà K đóng được 15.200.000 đồng vì vậy, dây hụi này bà K còn nợ số tiền 384.800.000 đồng (hụi mãn ngày 05/5/2025); D hụi năm: 5.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 20/5/2024 (AL) gồm 20 phần. Bà K tham gia 02 phần đóng được 04 kỳ hụi sống với số tiền 29.800.000 đồng. Các dây hụi bà K tham gia, bà K đóng hụi chết đến 10/9/2024 thì ngưng cho đến nay nhiều lần bà N yêu cầu thanh toán nhưng bà K chỉ hứa mà không thực hiện.
Nay bà Đỗ Thị N yêu cầu bà Lê Thị K trả số tiền: 625.000.000 (sáu trăm hai mươi lăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn – bà Lê Thị K – người đại diện hợp pháp của bà K là ông Huỳnh Minh T trình bày:
Bị đơn không có tham gia các dây hụi của nguyên đơn, thực chất giữa bị đơn, nguyên đơn có mối quan hệ vay tiền với nhau. Các khoản tiền các bên giao nhận thể hiện trong giấy đăng hụi, cụ thể:
- Dây thứ nhất: Hụi 10.000.000 đồng, hụi tháng khui 01 lần, hụi mở vào ngày 25/02/2023 gồm 26 phần, bà K tham gia 02 phần đã hốt xong. Cụ thể: Hốt lần 1 vào ngày 25/3/2023 với số tiền là 188.000.000 đồng, hốt lần lần 2 vào ngày 30/4/2023 với số tiền với là 183.680.000 đồng (dây hụi này bà K còn nợ lại 07 kỳ hụi chết là với số tiền là 140.000.000 đồng).
- Dây thứ hai: Hụi 5.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 10/7/2023 (AL) gồm 21 phần, bà K tham gia 2 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt lần 1 vào ngày 14/8/2023 với số tiền là 76.200.000 đồng; hốt lần 2 vào ngày 14/8/2024 với số tiền là 89.000.000 đồng. Dây hụi này bà K còn nợ lại 07 kỳ hụi chết với số tiền là 70.000.000 đồng.
- Dây thứ ba: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 10/9/2023 (AL) gồm 18 phần. Bà K tham gia 01 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt lần vào ngày 14/8/2024 với số tiền là 135.800.000 đồng. Dây hụi này bà K còn nợ lại 06 kỳ hụi chết với số tiền là 60.000.000 đồng.
- Dây thứ tư: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 05/8/2024 (AL) gồm 22 phần bà K tham gia 03 phần đã hốt 02 phần còn 01 phần hụi sống. Cụ thể: hốt lần 1 vào ngày 05/8/2024 với số tiền là 160.000.000 đồng; hốt lần 2 vào ngày 05/9/2024 với số tiền là 157.600.000 đồng. Dây hụi này bà K còn nợ lại 20 kỳ hụi chết với số tiền là 400.000.000 đồng. Còn 01 kỳ hụi sống bà K đóng được 15.200.000 đồng vì vậy dây hụi này bà K còn nợ số tiền 394.800.000 đồng. Tổng số tiền đã nhận 160.000.000 đồng + 157.600.000 đồng = 317.600.000 đồng. Tổng số tiền đã trả 15.200.000 đồng. Số tiền còn lại: 317.600.000 đồng – 15.200.000 đồng = 302.400.000 đồng
- Dây thứ năm: Hụi 5.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 20/5/2024 (AL) gồm 20 phần. Bà K tham gia 02 phần đóng được 04 kỳ hụi sống với số tiền 29.800.000 đồng.
Tổng số tiền đã nhận 188.000.000 đồng + 183.680.000 đồng = 371.680.000 đồng. Tổng số tiền đã trả (24-7 = 17 kỳ) x 10.000.000 đồng x 02 dây = 340.000.000 đồng. Số tiền còn lại: 371.680.000 đồng – 340.000.000 đồng = 31.000.000 đồng.
Tổng số tiền đã nhận 76.200.000 đồng + 89.000.000 đồng = 165.200.000 đồng. Tổng số tiền đã trả (19-7 = 12 kỳ) x 5.000.000 đồng x 02 dây = 120.000.000 đồng. Số tiền còn lại: 165.200.000 đồng – 120.000.000 đồng = 45.200.000 đồng
Tổng số tiền đã nhận 76.200.000 đồng + 135.800.000 đồng = 202.000.000 đồng. Tổng số tiền đã trả (16-6 = 10 kỳ) x 10.000.000 đồng x 02 dây - (2.000.000 x 10 tháng) = 182.000.000 đồng. Số tiền còn lại: 202.000.000 đồng – 182.000.000 đồng = 20.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn còn nợ là 383.400.000 đồng.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nay, bị đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng góp hụi 05 dây trên là vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 24-4-2025, của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định.
Căn cứ vào các Điều 122, 282, 471 Bộ luật Dân sự; các Điều 144, 147, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị N đối với bà Lê Thị K về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị K đối với bà Đỗ Thị N về việc yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Buộc bà Lê Thị K có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị N số tiền 625.000.000 (sáu trăm hai mươi lăm triệu) đồng. Ghi nhận, bà Đỗ Thị N không yêu cầu tính tiền lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đỗ Thị N cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Lê Thị K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06-5-2025, bà Lê Thị K có đơn kháng cáo, không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên bố 05 dây hụi vô hiệu toàn bộ, giải quyết hậu quả của giao dịch hụi vô hiệu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lê Thị K. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 27-6-2025, của Tòa án nhân dân, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị K kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Lê Thị K thấy rằng:
[2.1] Bà Đỗ Thị N làm thảo hụi, bà Lê Thị K có tham gia 05 dây hụi tháng 10.000.000 đồng cụ thể như sau: Dây hụi khui ngày 15-02-2023 gồm 26 phần; Chị K hốt lần 1 vào ngày 25-3-2023 với số tiền là 188.000.000 đồng (bút lục 47); hốt lần 2 vào ngày 30-4-2023 với số tiền là 183.600.000 đồng (bút lục 48). Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9-2024 từ kỳ thứ 19. Dây hụi này bà K còn nợ lại 07 kỳ hụi chết chưa đóng với số tiền 140.000.000 đồng.
Dây thứ hai: Hụi 5.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 10/7/2023 (AL) gồm 21 phần. Bà K tham gia 02 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt lần 01 vào ngày 14/8/2023 với số tiền là 76.200.000 đồng; hốt lần 02 vào ngày 14/8/2024, với số tiền là 89.000.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, từ kỳ 14. Dây hụi này bà K còn nợ lại 07 kỳ hụi chết là với số tiền là 70.000.000 đồng (hụi mãn ngày 10/3/2025);
Dây thứ ba: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 10/9/2023 (AL) gồm 18 phần. Bà K tham gia 01 phần đã hốt hụi xong. Cụ thể: hốt vào ngày 14/12/2023 với số tiền là 135.800.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, ngưng đóng từ kỳ 12. Dây hụi này bà K còn nợ lại 06 kỳ hụi chết với số tiền là 60.000.000 đồng (hụi mãn ngày 10/02/2025).
Dây thứ tư: Hụi 10.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 05/8/2024 (AL) gồm 22 phần bà K tham gia 03 phần đã hốt 02 phần còn 01 phần hụi sống. Cụ thể: hốt lần 1 vào ngày 05/8/2024 với số tiền là 157.600.000 đồng; hốt lần 2 vào ngày 05/9/2024 với số tiền với là 160.000.000 đồng. Bà K ngưng đóng hụi chết từ tháng 9/2024, ngưng đóng từ kỳ 03. Dây hụi này bà K còn nợ lại 20 kỳ hụi chết với số tiền là 400.000.000 đồng. Còn 01 kỳ hụi sống bà K đóng được 15.200.000 đồng vì vậy, dây hụi này bà K còn nợ số tiền 384.800.000 đồng (hụi mãn ngày 05/5/2025).
Dây thứ năm: 5.000.000 đồng, một tháng khui một lần, hụi mở ngày 20/5/2024 (AL) gồm 20 phần. Bà K tham gia 02 phần đóng được 04 kỳ hụi sống với số tiền 29.800.000 đồng. Các dây hụi bà K tham gia, bà K đóng hụi chết đến 10/9/2024 thì ngưng. Tổng cộng số tiền 625.000.000 đồng.
[2.2] Bà K thừa nhận chữ viết Lê Thị K và chữ ký tên K là do bà viết và ký tên trên 07 giấy biên nhận đăng hụi bà N cung cấp (bút lục 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53) tổng số tiền bà K nhận 991.100.000 đồng bà K cho rằng đã đóng được 607.700.000 đồng chỉ còn nợ lại 383.400.000 đồng và bà cho là tiền vay không phải tiền hụi và yêu cầu tuyên bố hợp đồng góp hụi giữa bà N và bà K vô hiệu nhưng bà K không cung cấp được chứng cứ chứng minh là hợp đồng vay.
[2.3] Thời điểm bà N khởi kiện, các dây hụi đều chưa mãn, nhưng bà K đã vi phạm nghĩa vụ góp hụi từ kỳ hụi tháng 9/2024. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N. Buộc bà K trả cho bà N số tiền 625.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà K là có căn cứ phù hợp theo quy định của pháp luật. Bà K kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lê Thị K. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 24-4-2025, của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị N được chấp nhận, yêu cầu phản tố của bà Lê Thị K không được chấp nhận nên bà Lê Thị K phải chịu án phí sơ thẩm tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà K kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lê Thị K.
- Giữ bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 24-4-2025, của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 122, 282, 471 Bộ luật Dân sự; các Điều 144, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị N đối với bà Lê Thị K về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị K đối với bà Đỗ Thị N về việc yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Lê Thị K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí kháng cáo 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0003454 ngày 16-5-2025, của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc bà Lê Thị K có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị N số tiền 625.000.000 (sáu trăm hai mươi lăm triệu) đồng. Ghi nhận, bà Đỗ Thị N không yêu cầu tính tiền lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đỗ Thị N cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Lê Thị K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Lê Thị K phải chịu 29.300.000 (hai mươi chín triệu ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà K đã đóng tại Biên lai thu số 0003156 ngày 27/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bà Đỗ Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Đỗ Thị N số tiền 14.800.000 (mười bốn triệu tám trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà N đã nộp tại Biên lai thu số 0006897 ngày 14/11/2024, của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Hồng Vân |
Bản án số 297/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 297/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
