Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2024/DS-PT

Ngày 10 tháng 12 năm 2024

V/v: “tranh chấp đòi lại quyền sử

dụng đất, di dời nhà trả lại đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Lợi;

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và ông Trương Văn Hai;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 296/2024/TLPT-DS ngày 23/10/2024 về việc “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất”; do Bản án dân sự sơ thẩm số 399/2023/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 382/2024/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1953; nơi cư trú: Tổ B, ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị C1, sinh năm 1962; nơi cư trú: ấp B, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 09/8/2023 của Ủy ban nhân dân xã Q).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ B, ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ B, ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Người kháng cáo: Ông Lê Văn C là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo.

(Tại phiên tòa ông Lê Văn C vắng mặt; còn lại những người tham gia tố tụng đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 22/12/2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn C, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Trần Thị C1 trình bày:

Vào ngày 29/7/1985, ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N - mẹ ruột ông L có thỏa thuận chuyển nhượng hai nền đất:

  • - 01 nền đất hướng ra lộ Búng Bình Thiên ngang 05m x dài 08m với giá 02 chỉ vàng 24 kara vào ngày 17/7/1985;
  • - 01 nền đất hướng ra lộ về K ngang 6,5m x dài 08m với giá 02 chỉ vàng 24 kara vào ngày 27/7/1985.

Tại thời điểm chuyển nhượng, cả hai phần đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không được cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Hai bên thống nhất lập văn bản viết tay, do bà N không biết chữ lên chỉ gạch thập, có người làm chứng.

Sau khi nhận chuyển nhượng, ông C tiến hành cất nhà sinh sống trên đất đến năm 1993 do hoàn cảnh khó khăn, nhà xuống cấp không có khả năng sửa chữa nên ông cùng gia đình đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh.

Đến năm 2000, theo chủ trương chung của Nhà nước, ông C thực hiện kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên do sau khi trừ đi phần đất trừ hành lang lộ giới thì không đủ diện tích tách thửa nên phần trên đến nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong thời gian ông C không sinh sống trên phần đất, ông L đã chiếm dụng phần đất, tiến hành tháo dỡ căn nhà và sử dụng một số gỗ khung nhà cất lại trại để cho cháu là Nguyễn Thị T bán thức ăn với kết cấu ngang 05m x dài 08m, nền xi măng, vách tole, lợp tole. Ông C gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã Q để được giải quyết nhưng không thành do ông L cố tình lẫn tránh. Nay ông C khởi kiện, yêu cầu các vấn đề cụ thể sau đây: Buộc ông Nguyễn Thành L phải khôi phục lại căn nhà với kết cấu nhà sàn, nóng đá, lót ván, vách tole, cột gỗ, lợp tole cất năm 1985 đến năm 1993 có sửa lại một lần cho đến nay và bồi thường vật dụng trong nhà có giá trị khoảng 30.000.000 đồng; Buộc ông Nguyễn Thành L trả lại phần đất chiều ngang 6.5m, chiều dài 8m; Buộc bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm di dời trại bán thức ăn trả lại nền đất.

Bị đơn ông Nguyễn Thành L trình bày:

Nguồn gốc phần đất hai bên đang tranh chấp là của cha ruột Nguyễn Văn G và mẹ ruột Nguyễn Thị N. Năm 1975, tất cả anh em trong nhà thống nhất phần đất giao cho ông quản lý, sử dụng có sự chứng kiến và xác nhận của Ban N3, ấp P.

Năm 2000, ông có tiến hành kê khai đăng ký quyền sử dụng đất nhưng chỉ được cấp giấy đất một phần, còn một phần do vướng hàng lang lộ giới, phần còn lại không đủ diện tích và đây cũng là phần đất đang tranh chấp với ông C.

Cụ N từ trước đến nay do ông trực tiếp chăm sóc. Đến năm 2018 thì cụ N chết, cụ không biết chữ nên việc cụ thỏa thuận chuyển nhượng đất với ông C là không

đúng sự thật.

Vào năm 1997, khi đó cụ N còn sống khỏe mạnh, minh mẫn thì ông L có thỏa thuận chuyển nhượng cho nhiều người, hiện nay tất cả đều sống ổn định trên đất và không có tranh chấp.

Đối với phần trại của chị Nguyễn Thị Bạch T: Mẹ chị T sử dụng từ trước năm 2000, do lý do sức khỏe nên vào năm 2009, chị T tiếp tục sử dụng để mua bán cho đến nay. Phía chị T có đến hỏi ý kiến của ông để tiến hành sửa chữa, qua nhiều lần mới có hiện trạng như ngày nay; ông C hoàn toàn không ngăn cản hay có ý kiến gì về việc này. Do đó, ông L không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía ông C.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bạch T trình bày:

Chị T và ông L là quan hệ họ hàng, gọi ông L là cậu ruột, chị thống nhất với lời trình bày của ông L Tranh chấp giữa ông cao và ông L chị không liên quan nên không có ý kiến, chị tuân thủ theo Quyết định của Tòa án.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ.

Chứng cứ Tòa án thu thập được:

Bà Nguyễn Thị N1 được Tòa án cho xem tờ mua bán đất ở ngày 29/7/1985, bà cho biết: Bà và ông C, ông L không có họ hàng, người cùng địa phương, có nhà gần nhau nhiều năm. Bà xác nhận chữ ký tại tờ mua bán đất trên là của bà tự viết. Tuy nhiên, do thời gian quá lâu nên bà không nhớ rõ đã ký vào thời gian nào, nội dung hai bên thỏa thuận cụ thể như thế nào, bà cũng không chứng kiến việc giao nhận vàng giữa hai bên. Tại thời điểm ký tên vào tờ mua bán, có mặt bà, ông X, ông C, bà N; sau khi ông X đọc lại nội dung thì ông X ký tên trước, rồi đến bà ký. Việc bà N và ông C đã ký tên hay chưa bà không nhớ nên không cung cấp được.

Theo yêu cầu của nguyên đơn:

Ngày 20/3/2024, Tòa án tiến hành đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ phần đất hai bên đang tranh chấp xác định: đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có nhà tạm kết cấu khung sắt gắn kẻm, mái tole, nền bê tông, kích thước 6,5m dài 2,8m hiện do chị Nguyễn Thị Bạch T quản lý, sử dụng bán cháo vào mỗi buổi chiều. Trên đất không có cây lâu năm.

Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 07/6/2024 của Văn phòng Đ - chi nhánh huyện A thể hiện phần đất tranh chấp tại các điểm 7, 9, 14, 13 có diện tích 37,7m², chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo biên bản định giá ngày 20/3/2024, xác định: Giá đất: 880.000đ/m²; Nhà tạm diện tích 18,2m²: 20.220.000đ.

Tại Công văn số: 984/UBND-NC ngày 26/7/2024 của Ủy ban nhân dân huyện A cho biết: Phần đất thuộc các điểm 7, 9, 14, 13 có diện tích 37,7m² theo bản vẽ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh A lập ngày 07/6/2024,

trong đó các điểm 9, 27, 28, 29, 13, 14 diện tích 5,6m² là đất giao thông; các điểm 7, 29, 28, 27 diện tích 32,1m². Tại thời điểm hiện nay không nằm trong vùng quy hoạch các công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện và người dân có quyền kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đủ điều kiện.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 399/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

Căn cứ Điều 05, 57 của Luật Đất đai năm 1987; căn cứ Điều 167, 188 của Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ các Điều 158, 161, 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 147, 158, Điều 217, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C về việc buộc ông Nguyễn Thành L phải khôi phục lại căn nhà với kết cấu nhà sàn, nóng đá, lót ván, vách tole, cột gỗ, lợp tole và bồi thường vật dụng trong nhà có giá trị khoảng 30.000.000đ.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C đối với phần đất diện tích 5,6m² tại các điểm 9, 27, 28, 29, 13, 14, theo bản vẽ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh A lập ngày 07/6/2024.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C về việc:
    • Buộc ông Nguyễn Thành L phải trả phần đất tại các điểm 7, 29, 28, 27 có diện tích 32,1m² theo Bản vẽ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh A lập ngày 07/6/2024.
    • Buộc chị Nguyễn Thị Bạch T di dời nhà tạm kết cấu khung sắt gắn kẻm, mái tole, nền bê tông, kích thước 6,5m dài 2,8m.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 23/9/2024, nguyên đơn ông Lê Văn C có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm số 399/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Bà Trần Thị C1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn Cao Cao C2 ý kiến chỉ đề nghị ông Nguyễn Thành L hỗ trợ cho ông C số tiền 10.000.000 đồng.
  • - Bị đơn ông Nguyễn Thành L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Nguyễn Thị Bạch T chấp nhận yêu cầu hỗ trợ số tiền 10.000.000 đồng cho ông C (mỗi người 5.000.000đ).
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Do tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của ông C chỉ yêu cầu ông L, bà T hỗ trợ cho ông C số tiền 10.000.000đ và ông L, bà T đã thống nhất tự nguyện hỗ trợ cho ông Cao 10.000.000đ (mỗi người 5.000.000đ) nên công nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: sửa Bản án sơ thẩm số 399/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn ông Lê Văn C kháng cáo trong thời hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Về nội dung: Ông Lê Văn C khởi kiện ông Nguyễn Thành L phải khôi phục lại căn nhà với kết cấu nhà sàn, nóng đá, lót ván, vách tole, cột gỗ, lợp tole cất năm 1985 đến năm 1993 có sửa lại một lần cho đến nay và bồi thường vật dụng trong nhà có giá trị khoảng 30.000.000 đồng; Yêu cầu ông L trả lại phần đất kích thước ngang 6,5m, dài 8m; Yêu cầu chị Nguyễn Thị T có trách nhiệm di dời trại bán thức ăn trả lại nền đất.

Xét thấy: Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là “Tờ mua bán đất ở ngày 29/7/1985” giữa ông C với bà Nguyễn Thị N, có chứng kiến của ông Trần Văn T1 (đã chết), Hồ Đức T2 (chết), Lê Văn X và bà Lê Thị N2, nhận thấy: Tại Bản án dân sự phúc thẩm số: 150/2023/DS-PT ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và Thông báo giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm số 487/TB-TA ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh cùng nhận định: Tòa án cũng đã thu thập “Tờ mua bán đất ở ngày 29/7/1985” giữa ông C và bà N nhưng trong đó bà N chỉ ký tên bằng dấu thập, lời khai của người làm chứng xác định không chứng kiến trực tiếp việc mua bán, không rõ diện tích đất, không rõ số tiền, vàng chuyển nhượng. Như vậy, lời khai và chứng cứ mà ông C cung cấp có sự mâu thuẫn, không thống nhất, không đủ cơ sở để xác định có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N và ông C. Do đó, cấp sơ thẩm nhận định “Tờ mua bán đất ở ngày 29/7/1985” không phải là chứng cứ của vụ án là có căn cứ. Trong quá trình giải

quyết vụ án, ngoài chứng cứ nói trên thì nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ khác chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở.

Theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 07/6/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện A, thể hiện: Phần đất tranh chấp tại các điểm 7, 9, 14, 13 có diện tích 37,7m². Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, căn cứ vào “Tờ mua bán đất ở ngày 29/7/1985”, lời trình bày của đương sự, cùng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định phần đất mà các bên tranh chấp thể hiện tại các điểm 7, 9, 14, 13 có diện tích 37,7m² theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 07/6/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện A là phần đất có nguồn gốc từ ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị N. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thành L phải trả đất nhưng không chứng minh được việc nguyên đơn có quyền đối với phần đất đang tranh chấp, cũng như cung cấp chứng cứ chứng minh việc bị đơn đã tháo dỡ nhà và các vật dụng trong nhà của nguyên đơn. Do đó, việc ông C khởi kiện yêu cầu ông L trả lại phần đất kích thước ngang 6,5m, dài 8m; Yêu cầu bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm di dời trại bán thức ăn trả lại nền đất là không có cơ sở.

Đối với phần đất do bà C1 và ông L chỉ dẫn tại các điểm 9, 27, 28, 29, 13, 14 có diện tích 5,6m² theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 07/6/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện A thì Bản đồ địa chính thể hiện đất giao thông là thuộc quyền quản lý của Nhà nước, nên ông C yêu cầu ông L phải trả lại phần đất này là không có căn cứ.

Tại phiên xét xử sơ thẩm, ông Cao R lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông L phải khôi phục lại căn nhà với kết cấu nhà sàn, nóng đá, lót ván, vách tole, cột gỗ, lợp tole và bồi thường vật dụng trong nhà có giá trị khoảng 30.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm đình chỉ là phù hợp quy định pháp luật.

Do đó, án sơ thẩm lập luận và quyết định như trên là hoàn toàn có căn cứ đúng quy định pháp luật. Ông Lê Văn C kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét chấp nhận, lẽ ra phải giữ nguyên án sơ thẩm.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà Trần Thị C1 đại diện theo ủy quyền của ông C có ý kiến chỉ đề nghị ông L hỗ trợ cho ông C số tiền 10.000.000đ, Theo đó, ông L đồng ý hỗ trợ 5.000.000, bà T tự nguyện hỗ trợ 5.000.000đ. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về chi phí tố tụng, do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông C phải chịu hoàn toàn chi phí tố tụng theo Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 19/6/2024 của Văn phòng Đ - chi nhánh huyện A số tiền 704.160đ và biên nhận tạm ứng chi phí tố tụng ngày 27/2/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú số tiền 2.000.000đ.

[3] Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Văn C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn C.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 399/2023/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C về việc buộc ông Nguyễn Thành L phải khôi phục lại căn nhà với kết cấu nhà sàn, nóng đá, lót ván, vách tole, cột gỗ, lợp tole và bồi thường vật dụng trong nhà có giá trị khoảng 30.000.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C đối với phần đất diện tích 5,6m² tại các điểm 9, 27, 28, 29, 13, 14, theo Bản vẽ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh A lập ngày 07/6/2024.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C về việc:
    • - Buộc ông Nguyễn Thành L phải trả phần đất tại các điểm 7, 29, 28, 27 có diện tích 32,1m² theo Bản vẽ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh A lập ngày 07/6/2024.
    • - Buộc chị Nguyễn Thị Bạch T di dời nhà tạm kết cấu khung sắt gắn kẻm, mái tole, nền bê tông, kích thước 6,5m dài 2,8m.
  4. Công nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thành L hỗ trợ cho ông Lê Văn C số tiền 5.000.000 đồng.
  5. Công nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Bạch T hỗ trợ cho ông Lê Văn C số tiền 5.000.000 đồng.

Về chi phí tố tụng: Ông Cao phải chịu chi phí tố tụng theo Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 19/6/2024 của Văn phòng Đ - chi nhánh huyện A số tiền 704.160đ và biên nhận tạm ứng chi phí tố tụng ngày 27/2/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú số tiền 2.000.000đ.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn C được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn C được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện An Phú;
  • - Chi cục THADS huyện An Phú;
  • - TAND tỉnh AG (Tòa Dân sự;
  • Phòng KTNV và THA; Văn phòng);
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thuận Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 297/2024/DS-PT ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất

  • Số bản án: 297/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger