TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 297/2023/HS-ST
Ngày: 02/11/2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Đình Quang;
- Ông Phạm Minh Thân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Minh Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến - Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 303/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2023/QĐXXST-HS ngày 18/10/2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Tiến B - Sinh năm: 1987
HKTT: Xóm 14, H, xã V, huyện H, Hà Nội;
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông: Trịnh Tiến B1;
Con bà: Nguyễn Thị H;
Vợ: Nguyễn Thị T Sinh năm: 1989
Có 02 con: Lớn sinh năm 2016, bé sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 19/07/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt.
Họ và tên: Trần Văn T1 - Sinh năm: 1999
HKTT: Thôn T, xã N, huyện T, Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông: Trần Văn C Sinh năm: 1973
Con bà: Trương Thị C1 Sinh năm: 1977
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị quả tang, tạm giữ ngày 29/6/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt.
Họ và tên: Trương Công H1 - Sinh năm: 2001
HKTT: Thôn T, xã N, huyện T, Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông: Trương Văn C2 Sinh năm: 1965
Con bà: Trần Thị H2 Sinh năm: 1975
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị quả tang, tạm giữ ngày 29/6/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/6/2023, Công an phường M trên đường làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát khi đến trước số A đường M, M, N, Hà Nội phát hiện Trương Công H1 và Trần Văn T1 đang đứng trao đổi với một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Lợi dụng sơ hở, nam thanh niên đã bỏ chạy thoát, kiểm tra Trương Công H1 phát hiện trên tay phải Hiệu cầm 01 túi nilon chứa thảo mộc khô, tay trái cầm số tiền 250.000 đồng. Tại chỗ, T1 và H1 khai số thảo mộc khô trên là ma tuý Tobaco, cả hai đang bán cho người nam thanh niên vừa bỏ chạy với giá 250.000 đồng. Tổ công tác lập biên bản, niêm phong tang vật, dẫn giải đối tượng về trụ sở công an phường M để xác minh làm rõ và chuyển Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận N để thụ lý theo thẩm quyền (Bút lục 89 – 93).
Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định được Trịnh Tiến B là người đã bán ma túy cho Trương Công H1 và Trần Văn T1. Ngày 19/7/2023, Trịnh Tiến B đã đến Công an quận N đầu thú, khai nhận việc bán ma tuý Tobaco cho Trần Văn T1 ngày 28/6/2023 (BL 217 – 218).
Vật chứng thu giữ (BL 94 – 96):
- 01 túi nilon màu trắng kích thước 5 x 10 cm bên trong chứa thảo mộc khô;
- Số tiền 250.000 đồng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus gắn sim (thu giữ của Trần Văn T1);
- 01 xe máy nhãn hiệu Vespa màu trắng, biển kiểm soát 98K1 – 168.60 (thu giữ của Trần Văn T1);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax lắp sim (thu giữ của Trương Công H1);
- 01 điện thoại di động kiểu sáng Oppo mà hông A71 gắn sim (thu giữ của Trịnh Tiến B)
Quá trình điều tra xác định:
Trần Văn T1 và Trương Công H1 là anh em họ ở cùng quê, gần nhà nhau. Đầu năm 2023, do không có tiền tiêu sài cá nhân nên Trần Văn T1 nảy sinh ý định mua ma tuý Tobaco về bán để kiếm lợi. Khoảng tháng 02 năm 2023, T1 lập tài khoản Facebook “Tobaco M” đăng bán ma tuý T2 kèm theo số điện thoại 0565.106.xxx để người mua liên hệ. T1 tìm được trên mạng xã hội Facebook tài khoản có tên “Lưu G” đăng bán T2 nên nhắn tin hỏi mua. Khi khách có nhu cầu mua sẽ liên hệ qua tin nhắn Facebook hoặc số điện thoại của T1, T1 sẽ nhắn tin cho “Lưu G” hỏi mua, giao nhận ma túy và thanh toán tiền cho S. Những lần mua bán với bán với khách và tin nhắn trao đổi với “Lưu G” T1 đã xóa hết để tránh bị cơ quan công an phát hiện, đến nay T1 không còn liên hệ với người bán ma túy trên. Cách thời điểm bị bắt khoảng 1 tuần, do biết T1 bán ma tuý T2 và bản thân H1 đang thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên H1 đã thoả thuận với T1 là có đơn ship thì cho H1 tham gia cùng để hưởng tiền ship. Thời điểm này T1 đi làm shipper để kiểm thêm thu nhập và có quen biết với Trịnh Tiến B do cùng làm công việc giao hàng. Qua nói chuyện, T1 biết B biết chỗ mua ma túy Tobaco nên đặt vấn đề nhờ B mua hộ Tobaco để về bán cho khách kiếm lợi, B đồng ý. (BL 200- 203).
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/6/2023, khi T1 và H1 đang ở cùng nhau tại số I, ngõ A Đ, M, N, Hà Nội thì nhận được tin nhắn Messenger của F “Q” hỏi mua 200.000 đồng ma tuý T2, T1 đồng ý và báo phí ship 50.000 đồng thì người này đồng ý, hẹn giao dịch tại số A đường M, M, N, Hà Nội. Sau đó T1 liên hệ qua số điện thoại của B đặt mua 3 gói Tobaco 200.000 đồng (mục đích để bán dần), tổng là 600.000 đồng, B yêu cầu T1 chuyển khoản trước mới giao ma tuý. T1 sử dụng ví Momo (đăng ký bằng số điện thoại 0373.473.xxx) chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng T3 mang tên “TRINH TIEN BAC”, số tài khoản: 19030998338015 số tiền 450.000 đồng (do tài khoản của T1 không đủ tiền nên nợ lại 150.000 đồng hẹn khi bán được ma tuý sẽ trả tiền đủ cho B). Do quá trình làm chung công việc giao hàng, nhiều lần Bắc đã chuyển đơn hàng của mình cho Tâm g, T1 còn nợ Bắc tiền hàng, do đó B chỉ mua hộ T1 01 gói ma túy Tobaco. Bắc liên hệ với tài khoản Facebook tên “Đại Hùng” hỏi mua 01 gói tobaco với giá 130.000 đồng, hẹn giao tại cổng nhà máy B2, đường T, Phương Canh N, Hà Nội. Một lúc sau có người shipper đã giao ma túy cho B, B trả tiền và vào ứng dụng G1 để đặt giao ma túy đến địa chỉ nhà T1 (BL 220 – 231).
Khoảng 14 giờ cùng ngày có số điện thoại của người ship gọi cho T1 ra trước số nhà I, ngõ A Đ để nhận 01 gói hàng từ nam thanh niên mặc áo G2 (T1 không quen biết và không nhớ số điện thoại người này). Sau khi nhận được ma tuý, T1 mang về xưởng mở ra và thấy chỉ có 01 túi nên gọi điện thì B nói do đang hết hàng và do T1 còn nợ tiền hàng của B trước đó nên giao trước 01 gói giá 200.000 đồng. Sau đó, T1 rủ H1 đi ship cùng và đưa túi ma tuý T2 cho H1 cất vào túi, còn T1 mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Vespa biển kiểm soát 98K1 – 168.60 của anh Trần Tuấn V (Sinh năm: 2002; Trú tại: Tổ F, thị trấn Y, Hà Giang) chở H1 ngồi phía sau đến điểm hẹn để bán ma tuý. Khoảng gần 15 giờ 30 phút cùng ngày khi T1 và H1 ngồi tại quán nước thì nam thanh niên hỏi mua ma tuý gọi điện qua ứng dụng Facebook cho T1 và đi đến quán nước ngồi cùng. Sau khi trao đổi người này đưa cho Hiệu số tiền 250.000 đồng, H1 cầm tiền đang định đưa túi ma tuý Tobaco cho người này thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng (BL 89 – 90).
Tại Bản kết luận giám định tại phòng KTHS Công an T xác định: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong màu trắng có khối lượng 3,745 gam có ma tuý loại ADB-BITINACA (BL 102)
Đối với người bán ma túy cho Trịnh Tiến B, sử dụng tài khoản Facebook “Đại Hùng” và người bán ma túy cho Trần Văn T1, sử dụng tài khoản Facebook “Lưu Gù”, người mua ma túy của T1, sử dụng tài khoản Facebook “Quỳnh Quỳnh” (như B và T1 khai), quá trình điều tra xác định, Do B và tâm không biết nhân thân, lai lịch, không có số điện thoại cũng như chưa từng gặp nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ và xử lý.
Đối với những lần bán ma túy trước đó, do T1 và H1 đã xóa hết dữ liệu trong điện thoại đồng thời không nhớ thời gian, địa điểm và số tiền bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Vespa, biển kiểm soát 98K1 – 168.60, quá trình điều tra xác định, đứng tên đăng ký chủ sở hữu là anh Trần Thanh C3 (Sinh năm: 1998; Trú tại: Thôn H, H, V, Bắc Giang). Anh C3 mua chiếc xe trên từ năm 2017 tại một cửa hàng bán xe máy cũ trên địa bàn quận B, Hà Nội với giá 34 triệu đồng, có giấy tờ mua bán xe. Sau đó anh C3 đem xe đi đăng ký chủ sở hữu tại Công an huyện V, Bắc Giang và sử dụng để đi lại. Đến tháng 7 năm 2021, do không có nhu cầu sử dụng xe nên anh C3 đã đăng bán xe trên trang “Chợ tốt” với giá 8,5 triệu đồng và đã bán cho một người không quen biết. Trần Văn T1 khai mượn chiếc xe trên của bạn là anh Trần Tuấn V. Tại Cơ quan điều tra, anh V khai, chiếc xe máy Vespa, biển kiểm soát 98K1 – 168.60 anh mua năm 2021 tại cửa hàng mua bán xe máy cũ (không nhớ địa điểm) với giá 10 triệu đồng để sử dụng đi lại. Ngày 28/6/2023, anh V cho Trần Văn T1 là bạn xã hội mượn xe để đi việc cá nhân, anh V không biết T1 sử dụng xe để đi bán ma túy. Anh V đã cung cấp giấy đăng ký xe mang tên Trần Thanh C3, do vậy ngày 13/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 85, trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Vespa, biển kiểm soát 98K1 – 168.60 cho anh Trần Tuấn V. Anh V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T1, Trương Công H1 và Trịnh Tiến B đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận của các bị can phù hợp với nhau, phù hợp với tang vật đã thu giữ và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 297/CT - VKS ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, các bị cáo Trần Văn T1, Trương Công H1, Trịnh Tiến B bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận các bị cáo Trần Văn T1, Trương Công H1, Trịnh Tiến B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử
Áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo Trịnh Tiến B, Trần Văn T1, Trương Công H1, mỗi bị cáo mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Tòa tuyên:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Trương Công H1, giám định viên phòng K - Công an thành phố H và Cán bộ Công an phường M.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus gắn sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 gắn sim; 01 điện thoại Iphone 11 Promax; số tiền 250.000 đồng.
- Buộc bị cáo Trịnh Tiến B truy nộp lại số tiền 30.000 đồng thu lợi bất chính.
Lời nói sau cùng các bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 28/6/2023, Trịnh Tiến B đã có hành vi bán trái phép 3,745 gam thảo mộc có chứa ma tuý loại ADB-BITINACA cho Trần Văn T1 để nhằm kiếm lời. Sau đó, đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/6/2023, tại trước cửa số nhà A đường M, M, N, Hà Nội, khi Trần Văn T1 và Trương Công H1 đang bán trái phép số ma túy trên cho một nam thanh niên (không xác định nhân thân, lai lịch) thì bị tổ công tác Công an phường M làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi của các bị cáo Trần Văn T1, Trương Công H1, Trịnh Tiến B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình mua và bán chất ma tuý để kiếm lời. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét vai trò, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo có vai trò ngang nhau, bị cáo T1 và bị cáo H1 cùng mua ma tuý của bị cáo B để bán kiếm lời.
Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình - được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài ra, bị cáo B được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến; ông nội bị cáo có huân chương kháng chiến hạng nhất – được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1 và bị cáo H1 đều có thời gian phục vụ trong quân đội và có thành tích; ông bà bị cáo T1 có huân chương kháng chiến – được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là: 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Trương Công H1, Trần Văn T1, giám định viên và Cán bộ Công an phường M cần tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus gắn sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 gắn sim; số tiền 250.000 đồng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. 01 điện thoại Iphone 11 Promax thu giữ của bị cáo H1 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H1.
Đối với số tiền bị cáo Trịnh Tiến B thu lợi bất chính: Căn cứ vào lời khai của bị cáo B và bị cáo T1 và các tài liệu trong hồ sơ, số tiền bị cáo B thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý cho bị cáo T1 là 30.000 đồng. Vì vậy cần buộc bị cáo B truy nộp số tiền thu lợi bất chính là 30.000 đồng.
[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s, v, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Tiến B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Xử phạt Trịnh Tiến B 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2023.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 và bị cáo Trương Công H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Trần Văn T1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2023.
Xử phạt Trương Công H1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2023.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Trương Công H1, Trần Văn T1, giám định viên và Cán bộ Công an phường M;
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s Plus gắn 01 sim, màu hồng (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 màu hồng, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); số tiền 250.000 đồng.
+ Trả lại cho bị cáo Trương Công H1 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Promax màu gold, gắn 01 sim (điện thoại đã bị khoá nên không kiểm tra được số Imei);
+ Buộc bị cáo Trịnh Tiến B truy nộp lại số tiền 30.000 đồng thu lợi bất chính.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 20 ngày 25/10/2023 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/10/2023).
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thúy Anh |
Bản án số 297/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 297/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Tiến B và đồng phạm bị viện kiểm sát truy tố tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
