TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 296/2024/HSST Ngày: 27/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 238/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1.Đỗ Phan H sinh năm 1972 tại H4; Hộ khẩu thường trú: tổ A tập thể Xí nghiệp B Đ, phường T, quận T, TP Hà Nội; nơi ở hiện tại: tổ A, ngõ B B, phường K, quận T, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đỗ Đại H1 (đã chết); Con bà: Phan Thị Tuyết A, sinh năm 1948, có vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1986, có 03 con, một con sinh năm 2000, một con sinh năm 2015, một con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
-Quyết định số 820/QĐ-UBTX ngày 07/6/2006 của Chủ tịch UBND quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/5/2024;
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa).
2. Đào Xuân T1 sinh năm 1978 tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã T, huyện T, TP Hà Nội ; nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện T, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Đào Xuân C, sinh năm 1951; Con bà: Tạ Thị T2, sinh năm 1955, có vợ: Lê Thị Thanh H2, sinh năm 1976, có 01 con sinh năm 2012.
-Tiền án, tiền sự: Không.
-Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2015/HSST ngày 19/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, TP Hà Nội xử phạt Đào Xuân T1 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/5/2024;
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 23/5/2024 tại khu vực ngã tư M, K, quận H, TP Hà Nội, tổ công tác Công an phường P, quận H phát hiện Đỗ Phan H điều khiển xe máy đèo Đào Xuân T1 có biểu hiện nghi vấn phạm tội liên quan đến ma túy. Tổ công tác công an phường P đã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn trái của Đào Xuân T1 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng L, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng kích thước 2,5x2cm chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- -01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng L, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng kích thước 2,5x2cm chứa chất bột màu trắng.
- -01 (một) điện thoại Aquaris mặt sau dán màu đen, bên trong lắp sim số 0964658142.
- -01 điện thoại OPPO màu xanh, bên trong lắp sim số 0971138846;
- -01 (một) xe Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS: 29G2-093.34, Số khung: RLHJA3805NY157362.
Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Phan H và bị cáo Đào Xuân T1 như sau:
-Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 có lời khai thống nhất như sau: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, Đỗ Phan H điều khiển xe máy Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS: 29G2-093.34 đi từ nhà đến Trung tâm y tế M phường H, quận H, TP Hà Nội để uống thuốc. Tại đây, Đỗ Phan H gặp Đào Xuân T1 cũng đi uống thuốc tại Trung tâm. H và T1 nói chuyện với nhau, thống nhất mỗi người góp 250.000 đồng mua ma túy để sử dụng. T1 đưa cho H 250.000 đồng. H sử dụng xe máy nêu trên đèo T ngồi phía sau đến khu vực cuối đường N để tìm mua ma túy. Tại đây, H và T1 gặp một người nam giới, dáng người gầy, giống người nghiện. H hỏi người nam giới: “Có hàng không bán cho tôi 500.000 đồng?”. Người nam giới nói: “Có, đưa tiền đây”. H đưa cho người nam giới 500.000 đồng. Người nam giới đưa cho H 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng L, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa ma túy Heroin. H cầm gói ma túy và đưa cho T1. Khi cả hai đi đến khu vực M, phường K, quận H, TP Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra thu giữ trong lòng bán trái của T1 01 gói ma túy vừa mua được. Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản và đưa H, T1 về trụ sở để làm rõ.
Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Quá trình điều tra Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 khai mua của người nam giới không quen biết (không biết tên, nhân thân, lai lịch) tại khu vực khu vực cuối đường N, phường P, quận H, TP .. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T1 và H không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ trong vụ án này.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, BKS 29G2-093.34, số khung RLHJA3850NY157362, số máy JA52E-0498494 đã qua sử dụng thu giữ nêu trên là phương tiện H sử dụng để đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định: Xe được đăng ký sở hữu mang tên Đỗ Phan H. H khai chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị T, SN 1986, HKTT: Tổ 12, TT xí nghiệp Bao bì đồ mộc, phường T, quận T, TP . (Vợ của H) mua và nhờ Đỗ Phan H đứng tên do lúc mua xe chị T bị mất giấy tờ nên không làm được đăng ký xe. Quá trình điều tra chị Nguyễn Thị T khai: Chiếc xe trên là của mẹ đẻ chị T là bà Lê Thị Bích Đ, SN 1966, HKTT: khu E, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ cho chị T tiền để mua xe do chị T chưa có công ăn việc làm ổn định. Ngày 23/5/2024, Nguyễn Thị T cho H mượn chiếc xe trên để đi có việc. Chị T không biết việc H sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Chị T đã xuất trình đầy đủ giấy tờ hợp lệ của chiếc xe và có đơn xin lại chiếc xe; Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 30/7/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 4876 bằng hình thức trao trả chiếc xe máy trên cho chị Nguyễn Thị T.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Aquaris mặt sau dán màu đen, bên trong lắp sim số 0964658142, đã qua sử dụng, thu giữ của Đào Xuân T1 và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, bên trong lắp sim số 09711138846, đã qua sử dụng, thu giữ của Đỗ Phan H. Cơ quan điều tra chuyển đến chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông để xử lý theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 3825/KL-KTHS ngày 01/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
-Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu bạc màu trắng (để bên trong 01 vỏ bao thuốc lá T) là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,125 gam.
Tại Cáo trạng số 234/CT-VKS-HĐ ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng các bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 234/CT-VKS-HĐ ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Phan H, Đào Xuân T1, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Phan H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình, xử phạt bị cáo Đào Xuân T1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
- Hình phạt bổ sung: Do hai bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có điều kiện để thi hành án, vì vậy đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín ký các mép dán có chữ ký của các đối tượng Đỗ Phan H, Đào Xuân T1, cán bộ Công an phường P- Trần Mạnh T3 và giám định viên Trần Ngọc C1.
- Trả lại cho bị cáo Đỗ Phan H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, bên trong lắp sim số 09711138846, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân T1: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Aquaris mặt sau dán màu đen, bên trong lắp sim số 0964658142, đã qua sử dụng
- Về án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp kết quả giám định vật chứng của phòng K công an thành phố H và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đầy đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, tại khu vực khu vực ngã tư M, phường K, quận H, TP ., Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 có hành vi cất giấu trái phép 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 (một) gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,125 gam, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường P phối hợp với Công an phường K kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo hiểu rõ tác hại của việc sử dụng trái phép các chất ma túy và nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy và xử phạt nghiêm khắc người nào có hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân gây lan truyền tệ nạn nghiện ngập ma tuý, làm huỷ hoại nhân cách, sức khỏe người sử dụng, huỷ hoại hạnh phúc gia đình và có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử các bị cáo và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng, trên địa bàn thủ đô và cả nước.
Xét tính chất đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm đơn giản, hai bị cáo rủ nhau đi mua ma túy để sử dụng và thống nhất mỗi bị cáo góp một nửa số tiền mua ma túy. Hai bị cáo cùng đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, hai bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị bắt, vì vậy hai bị cáo có vai trò ngang nhau đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét:
Hai bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng chất ma túy tàng trữ là 0,125 gam ma túy heroin trên mức khởi điểm.
*Đối với Đỗ Phan H:
- -Tiền án, tiền sự: Không
- -Nhân thân: Quyết định số 820/QĐ-UBTX ngày 07/6/2006 của Chủ tịch UBND quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
- -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
*Đối với Đào Xuân T1:
- -Tiền án, tiền sự: Không
- -Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2015/HSST ngày 19/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, TP Hà Nội xử phạt Đào Xuân T1 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích
- -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Các vấn đề khác của vụ án:
Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Quá trình điều tra Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 khai mua của người nam giới không quen biết (không biết tên, nhân thân, lai lịch) tại khu vực khu vực cuối đường N, phường P, quận H, TP . Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T1 và H không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ trong vụ án này là phù hợp.
-Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, BKS 29G2-093.34, số khung RLHJA3850NY157362, số máy JA52E-0498494 đã qua sử dụng thu giữ nêu trên là phương tiện H sử dụng để đi mua ma túy. Kết quả điều tra đã xác định rõ xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị T, SN 1986, HKTT: Tổ 12, TT xí nghiệp Bao bì đồ mộc, phường T, quận T, TP . (Vợ của H); Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho chị Nguyễn Thị T là phù hợp
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 đều là lao động tự do, không có công việc ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6]. Xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ ký ký của các đối tượng Đỗ Phan H, Đào Xuân T1, cán bộ Công an phường P- Trần Mạnh T3 và giám định viên Trần Ngọc C1
-Trả lại cho bị cáo Đỗ Phan H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, bên trong lắp sim số 09711138846, đã qua sử dụng và trả lại cho bị cáo Đào Xuân T1: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Aquaris mặt sau dán màu đen, bên trong lắp sim số 0964658142, đã qua sử dụng vì không liên quan đến tội phạm.
[7] Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Đỗ Văn H3 và Đào Xuân T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Phan H và Đào Xuân T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự:
-Xử phạt bị cáo Đỗ Phan H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
-Xử phạt bị cáo Đào Xuân T1 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ ký ký của các đối tượng Đỗ Phan H, Đào Xuân T1, cán bộ Công an phường P- T, giám định viên Trần Ngọc C1
- - Trả lại cho bị cáo Đỗ Phan H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, bên trong lắp sim số 09711138846, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Đào Xuân T1: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Aquaris mặt sau dán màu đen, bên trong lắp sim số 0964658142, đã qua sử dụng
Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, TP Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội.
4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Đỗ Phan H, bị cáo Đào Xuân T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 296/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 296/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Phan Hà và ĐP
