Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 296/2024/HS-ST

Ngày: 21-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

  • Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thiều Đình Thu

  • Bà Thi Thị Tuyết Nhung

  • Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Đoàn Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 326/2024/HSST ngày 26/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2774/2024/QĐST-HS ngày 23/5/2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh H; sinh năm 1995 tại: tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: C T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Thanh H1 và bà: Đặng Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: bản án số 05/2014/HS-ST ngày 06/3/2014, Tòa án nhân dân huyện KBang, tỉnh Gia Lai xử phạt 05 tháng 15 ngày tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 15/4/2014;

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/3/2023. Có mặt.

Bị hại: Ông Lê Minh B, sinh năm: 1976 (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Hồ Thị H2, sinh năm: 1950, là mẹ của bị hại. Vắng mặt.

  2. Bà Trần Thị P, sinh năm: 1974, vợ của bị hại. Có mặt.

  3. Chị Lê Thị Hoàng Y, sinh năm: 2003, con của bị hại. Vắng mặt.

Cùng cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Lê Minh T, sinh năm 2007 và bà Lê Thị Hoàng Y1, sinh năm 2015, là con của bị hại. Vắng mặt.

  2. Ông Trần Thanh Tuấn E, sinh năm 2000; nơi cư trú: 413/41/3 đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Trọng N - Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh H và anh Lê Minh B là bạn bè. Anh B là đầu bếp quán K, địa chỉ tại C T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Hoàng thường đến quán K chơi và phụ giúp anh Bình bán quán.

Khoảng 23 giờ ngày 09/3/2023, H điện thoại rủ anh Trần Thanh T1 Em đến quán K ăn và uống bia cùng với H và anh B. Đến khoảng 02 giờ 20 phút, bàn ăn uống cuối cùng trong quán tính tiền, anh B tính tiền cho khách là 10 lon bia. H kiểm tra thực tế số bia của khách là 23 lon, nên giữa anh B và H xảy ra cự cãi. H đi xuống bếp lấy 01 con dao dài khoảng 27cm, cán bằng gỗ dài khoảng 12cm, lưỡi nhọn bằng kim loại dài khoảng 16cm, đi lên chỗ anh B đang ngồi dọn dẹp bàn cho khách. Thấy H đi đến, anh B đứng dậy và đứng đối diện H, H cầm dao trên tay phải đâm liên tiếp 05 nhát vào vùng ngực, bụng, cổ của anh B đến khi anh B gục xuống và lưỡi dao bị gãy rời ra khỏi cán dao, thì H tiếp tục chạy vào bếp cầm một con dao khác kề vào cổ để dọa anh B. Lúc này H phát hiện anh B đã tử vong nên cất dao vào bếp. Sau đó, H nhờ Tuấn E chở đến Công an P1, Quận A đầu thú.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Trần Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 2274-23/KL-KTHS ngày 10/4/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Minh B như sau: “Lê Minh B chết do sốc mất máu không hồi phục do đa vết thương đâm thủng tim, gan và đứt tĩnh mạch cảnh trái.”

Tại Bản kết luận giám định tử thi bổ sung số 2361-24/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: “Con dao có cán dài khoảng 12cm x 3,5cm, lưỡi dao dài khoảng 16cm x 5cm mũi nhọn, 01 cạnh sắc có thể gây ra được các thương tích trên cơ thể anh Lê Minh B như bản Kết luận giám định số 2274-23/KL-KTHS ngày 10/4/2023.”

Vật chứng thu giữ:

  • 01 cán dao kích thước 12cm x 3,5cm; 01 lưỡi dao kích thước 16cm x 5cm mũi nhọn, 01 cạnh sắc, là hung khí H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội;

  • 01 con dao mũi vuông, kích thước lưỡi 23 x 10cm, cán còn lại dài 14cm;

  • 01 hộp quẹt; 01 bao thuốc lá; 01 mẫu đầu lọc thuốc lá là đồ vật H sử dụng tại hiện trường xảy ra vụ án;

  • 01 điện thoại di động Oppo A15S màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen là đồ vật, tài sản của anh Trần Thanh T1 Em;

  • 01 cái áo tay ngắn màu đen có viền tay màu đỏ và viền cổ; 01 cái quần jean ngắn màu xám; 01 đôi dép tổ ong màu vàng; 01 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh đen là đồ vật, tài sản của H;

  • 01 miếng vải dài khoảng 02m; 01 áo thun màu đỏ có cổ màu xanh đen; 01 quần jean trắng; 01 dây thắt lưng dài khoảng 1,2m là đồ vật, tài sản của anh B.

  • 01 (một) xe mô tô Wave biển số 59G1-221.34 thu giữ của anh Trần Thanh T1 Em. Qua xác minh là xe không có nguồn gốc. Anh Tuấn E1 khai nhận là mượn của anh Nguyễn Lương Đông H3. Ghi lời khai anh H3, chiếc xe trên anh H3 mua tại vựa ve chai, không biết nguồn gốc xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập biên bản tạm giữ chiếc xe trên và có văn bản đề nghị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính đối với anh H3 theo quy định.

Về dân sự: Chị Trần Thị P, là vợ của anh Lê Minh B yêu cầu bồi thường số tiền 732.000.000 đồng là tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần và tiền hỗ trợ nuôi con đến 18 tuổi. Gia đình H đã bồi thường số tiền 126.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 244/CT-VKS-P2 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã truy tố để xét xử đối với bị cáo Trần Thanh H về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án và trình bày lời luận tội, đánh giá về tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết định khung và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật.

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thanh H tù chung thân về tội “Giết người”.

Về vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: buộc bị cáo bồi thường theo thỏa thuận của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 606.000.000 đồng, còn về hình phạt đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với nội dung vụ án, tội danh, khung hình phạt và điều luật Viện kiểm sát truy tố để xét xử đối với bị cáo nên không tranh luận. Chỉ nêu ra các tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại để khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức thấp hơn theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh H tại phiên tòa, đối chiếu lời khai nhận bị cáo Trần Thanh H tại Cơ quan điều tra là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Trần Thanh H và anh Lê Minh B là bạn bè. B làm đầu bếp và Hoàng phụ quán tại quán K, địa chỉ C T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 09/3/2023, bị cáo H và bị hại B cự cãi về vấn đề đếm số lượng lon bia cho khách, chỉ vì bực tức anh B mà Hoàng đi xuống bếp lấy 01 con dao dài khoảng 27cm, cán bằng gỗ dài khoảng 12cm, lưỡi nhọn bằng kim loại dài khoảng 16cm và dùng tay phải đâm liên tiếp 05 nhát vào vùng ngực, bụng, cổ của anh B, trong đó có nhát cuối cùng lưỡi dao bị gãy nằm trong vùng bụng, đến khi anh B tử vong tại chỗ.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 2274-23/KL-KTHS ngày 10/4/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Minh B như sau: “Lê Minh B chết do sốc mất máu không hồi phục do đa vết thương đâm thủng tim, gan và đứt tĩnh mạch cảnh trái.”

Hành vi trên của bị cáo Trần Thanh H đã phạm vào tội “Giết người”, thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Thanh H trực tiếp dùng dao đâm nhiều nhát vào người bị hại dẫn đến tử vong. Xét về hành vi và hậu quả do bị cáo H đã gây ra cho bị hại, mặc dù

giữa bị hại và bị cáo có mối quan hệ bạn bè, song chỉ vì có mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo H đã vô cớ tước đoạt mạng sống của bị hại; hành vi của bị cáo rất hung hăng, côn đồ, coi thường pháp luật, đã vô cớ tước đi mạng sống của người khác, xét thấy bị cáo không thể cải tạo được, cần áp dụng mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt mới đủ để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 126 triệu đồng, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng hành vi tấn công của bị cáo là nhanh chóng, quyết liệt, bị cáo đâm liên tục 05 nhát dao vào những vùng trọng yếu trên người của bị hại mà chính bị cáo cũng không nhớ đâm vào vùng nào trước; sau khi bị gãy dao, bị cáo liền xuống bếp đem lên con dao khác kề vào cổ bị hại 2 lần, đến khi bị cáo phát hiện bị hại đã chết mới dừng lại, hành vi trên của bị cáo mất hết cả tính người, thể hiện mong muốn tước đoạt mạng sống của bị hại đến cùng, điều đó thể hiện bị cáo không còn khả năng cải tạo, nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt, loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng của hình phạt.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử đối với bị cáo Trần Thanh H về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo Trần Thanh H là có căn cứ.

Lập luận nêu trên cũng là căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận quan điểm, ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt đề nghị dành cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bà Trần Thị P - vợ của bị hại, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 606.000.000 đồng, bị cáo đồng ý. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện của bị hại, buộc bị cáo bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 606.000.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 cán dao kích thước 12cm x 3,5cm; 01 lưỡi dao kích thước 16cm x 5cm mũi nhọn, 01 cạnh sắc, 01 con dao mũi vuông, kích thước lưỡi 23 x 10cm, cán còn lại dài 14cm; 01 hộp quẹt; 01 bao thuốc lá; 01 mẫu đầu lọc thuốc lá; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 cái áo tay ngắn màu đen có viền tay màu đỏ và viền cổ; 01 cái quần jean ngắn màu xám; 01 đôi dép tổ ong màu vàng; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 miếng vải dài khoảng 02m; 01 áo thun màu đỏ có cổ màu xanh đen; 01 quần jean trắng; 01 dây thắt lưng dài khoảng 1,2m là những vật không còn giá trị sử dụng và là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

  • 01 điện thoại di động Oppo A15S màu đen; 01 (một) xe mô tô Wave biển số 59G1-221.34 thu giữ của anh Trần Thanh T1 Em, xét thấy những vật trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Trần Thanh T1 Em.

  • 01 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh đen thu giữ của bị cáo H không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: bị cáo Trần Thanh Hoàng tử h, về tội “Giết người”.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[2] Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 587, 591 của Bộ luật Dân sự

Buộc bị cáo Trần Thanh H bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 606.000.000 (sáu trăm lẻ sáu triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

[3] Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 cán dao kích thước 12cm x 3,5cm; 01 lưỡi dao kích thước 16cm x 5cm mũi nhọn, 01 cạnh sắc; 01 con dao mũi vuông, kích thước lưỡi 23 x 10cm, cán còn lại dài 14cm; 01 hộp quẹt; 01 bao thuốc lá; 01 mẫu đầu lọc thuốc lá; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 cái áo tay ngắn màu đen có viền tay màu đỏ và viền cổ; 01 cái quần jean ngắn màu xám; 01 đôi dép tổ ong màu vàng; 01 miếng vải dài khoảng 02m; 01 áo thun màu đỏ có cổ màu xanh đen; 01 quần jean trắng; 01 dây thắt lưng dài khoảng 1,2m.

  • Trả lại cho bị cáo Trần Thanh H: 01 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh đen (nhận 01 điện thoại Oppo, cũ, trầy xước, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

  • Trả lại cho Trần Thanh T1 Em: 01 điện thoại di động Oppo A15S màu đen (thực nhận điện thoại Oppo, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu không xác định, số loại: không xác định, dung tích xi lanh: không xác định, biển số 59G1-221.34, SK (mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy, ghi theo số cà): RRKWCH0UN99000987, SM(mài, đục lại số, không

  • xác định được số nguyên thủy, ghi theo số cà): VTT03JL1P52FMH-99120191 (xe bể nát, bể đồng hồ, không gương, dàn nhựa bể, xã cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/312 ngày 06/5/20224 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

[4] Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 28.240.000 (hai mươi tám triệu hai trăm bốn mươi ngàn) đồng.

[5] Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 07 ngày tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Trần Thanh H có quyền gửi đơn lên Chủ tịch N1 để xin ân giảm án tử hình.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (2)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (3)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đức Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 296/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 296/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Thanh H tử hình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger