|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 296/2024/HS-ST
Ngày: 03 – 12 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Nguyên
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 357/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 329/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thòi gian xét xử vụ án số 357-1/TB-TA ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với:
-
Lê Thị G, sinh năm: 1979 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, Ấp I, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: E Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Văn V (chết) và bà Vũ Thị B; Có chồng là Nguyễn Hùng S và 01 người con sinh năm 2006; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt từ ngày 25/01/2024. (có mặt)
-
Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm: 1986 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, Ấp I, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: E Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị N; Có chồng là Huỳnh Tuấn S1 và 02 người con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt từ ngày 25/01/2024. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ ngày 25/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an xã V, huyện B kiểm tra cư trú nhà số E Tổ D, Ấp E, xã V, huyện B, có mặt Lê Thị G và Nguyễn Thị Phương T1 (T1 là em dâu của G), phát hiện trong phòng của T1 có 01 cân điện tử và nhiều gói nylon rỗng, tại vị trí cầu thang trong phòng của T1 ở mặt dưới bậc cầu thang thứ nhất (từ dưới lên trên) có 01 mảnh giấy được gói lại, bên trong có 02 gói nylon có viền màu xanh chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon có viền màu đỏ chứa tinh thể không màu được T1 khai nhận là ma túy tổng hợp (hàng đá) của T1 cất giữ mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Tiếp tục kiểm tra trong phòng của G, Công an phát hiện tại kệ cửa sổ cạnh cầu thang có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; trên nắp bồn cầu của nhà vệ sinh có 01 túi nylon đựng 06 gói nylon có viền màu đỏ chứa tinh thể không màu, 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu, 01 gói nylon được cuộn tròn chứa tinh thể không màu; dưới sàn nhà vệ sinh có 01 đoạn ống hút một đầu cắt nhọn và 01 cân điện tử; trên kệ để đồ của nhà vệ sinh có nhiều gói nylon rỗng. Tất cả 09 gói nylon chứa tinh thể không màu trên được G khai nhận là ma túy tổng hợp (hàng đá) của G cất giữ mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Do đó, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra các bị can khai nhận như sau:
Lê Thị G khai nhận: khoảng 10 ngày trước khi bị bắt, G nảy sinh ý định mua ma túy bán lại kiếm lời nên đã nói T1 gọi cho P (mẹ chồng của T1) đem ma túy đá qua bán cho G. Lúc này T1 không trả lời nhưng đến buổi chiều cùng ngày thì P đến nhà và gặp trực tiếp G tại nhà bếp và để lên bàn ăn 02 gói nylon ma túy đá (mỗi gói là 5 gam) và báo giá là 3.700.000 đồng, G trả tiền mặt rồi P đi về. Sau đó, G đem 02 gói ma túy đá về phòng ngủ của mình và lấy 01 gói ma túy đá 5 gam chia thành 12 gói ma túy đá nhỏ (khối lượng khác nhau) nhằm mục đích chờ con nghiện đến mua rồi bán lại kiếm lời. Đến ngày 24/01/2024, T1 hỏi mua lại của G 1 hộp 5 (5 gam) ma túy đá, G đồng ý và bán cho T1 với giá 1.850.000 đồng, đây là ma túy G mua từ P. Do T1 có công việc phải đi ngay nên G để 01 gói ma túy đá (5 gam) lên kệ để chén bát ở nhà bếp để khi T1 về thì tự lấy, T1 trả tiền mua ma túy cho G qua tài khoản Ngân hàng. Sau đó, G bán được cho hai người nam (không rõ tên, lai lịch) được 03 gói ma túy đá giá 1.100.000 đồng. Đến gần 14 giờ ngày 25/01/2024 có một người đàn ông không rõ lai lịch đến nhà G hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, G đồng ý và vào nhà vệ sinh đổ 09 gói ma túy đá ra nắp bồn cầu rồi chọn lấy 01 gói 300.000 đồng đem ra bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an đến kiểm tra phát hiện thu giữ toàn bộ ma túy và dụng cụ phân chia ma túy để bán kiếm lời như đã nêu trên. G dự kiến nếu bán hết 12 gói ma túy nói trên thì sẽ kiếm lời được khoảng 3.000.000 đồng. G có kết quả xét nghiệm âm tính với ma túy. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng P1 với lời khai của G (Bút lục 120-132 ).
Nguyễn Thị Phương T1 khai nhận: do trước đây chồng T1 là Huỳnh Tuấn S1 (chồng của T1 trước đó đã bị Công an bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy) có sử dụng ma túy nên quen biết với nhóm bạn bè ngoài xã hội. Sau khi S1 bị bắt thì có một người bạn xã hội của S1 (không rõ lai lịch) đến nhà hỏi thăm T1 về chỗ bán ma túy để mua sử dụng. Do không có việc làm, cần tiền nuôi con còn nhỏ nên T1 nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại kiếm lời. Vì biết G có bán ma túy nên ngày 24/01/2024, T1 mua của G “1 hộp 5” ma túy đá giá 1.850.000 đồng, trả tiền bằng hình thức chuyển khoản Ngân hàng. Do có việc cần phải ra ngoài nên T1 không lấy ma túy ngay, khi về nhà, T1 đến kệ bếp và lấy “1 hộp 5” ma túy đá để trong 01 bịch nylon mà G để sẵn trên kệ rồi đem về phòng, chia nhỏ ra thành 05 gói nylon chứa ma túy đá để chờ bán và dự định bán hết số ma túy này với giá 2.500.000 đồng. Trong hai ngày 24, 25/01/2024 T1 đã bán được cho 02 người thanh niên không quen biết 02 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng và 1.200.000 đồng (tiền bán được đã tiêu xài hết), 03 gói nylon chứa ma túy đá còn lại chưa bán được T1 cất giấu tại vị trí chân cầu thang trong phòng của T1 đến 14 giờ ngày 25/01/2024 thì Công an đến kiểm tra phát hiện thu giữ toàn bộ ma túy và dụng cụ phân chia ma túy để bán kiếm lời như đã nêu trên. Đối với nguồn gốc số ma túy mà G bán cho mình thì T1 không biết, T1 không gọi P (mẹ chồng của T1) đến bán ma túy cho G và T1 cũng không biết bà P đang ở đâu làm gì. T1 có kết quả xét nghiệm âm tính với ma túy. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng P1 với lời khai của T1 (Bút lục 140-150, 166-171).
Tại kết luận giám định số 1941/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H (bút lục 24-25), kết luận:
- - Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong (Ký hiệu mẫu m₁), qua giám định có khối lượng 0,3619g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
-
- Gói 2:
- + Tinh thể không màu trong 06 gói nylon có viền đỏ (Ký hiệu mẫu m₂), qua giám định có tổng khối lượng 3,2599g, đều là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- + Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m₃) qua giám định có khối lượng 1,2217g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- + Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được cuộn tròn (Ký hiệu mẫu m₄) qua giám định có khối lượng 0,1081g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- Số tinh thể không màu trong gói 1 và gói 2 là ma túy thể rắn thu giữ của Lê Thị G, có tổng khối lượng là 4,9516g, loại Methamphetamine;
-
- Gói 3 (ma túy thu giữ của Nguyễn Thị Phương T1):
- + Tinh thể không màu trong 02 gói nylon có viền xanh (Ký hiệu mẫu m₅) qua giám định có tổng khối lượng 0,4103g, đều là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- + Tinh thể không màu trong 01 gói nylon có viền đỏ (Ký hiệu mẫu m₆) qua giám định có khối lượng 0,3453g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Số tinh thể không màu trong gói 3 là ma túy thể rắn, thu giữ của Nguyễn Thị Phương T1 có tổng khối lượng là 0,7556g, loại Methamphetamine;
Vật chứng thu giữ:
- 01/ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Lê Thị G còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 0,2498g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine;
- 02/06 gói nylon có viền màu đỏ chứa tinh thể không màu thu giữ của Lê Thị G, còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 4,0116g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine;
- 03/ 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu thu giữ của Nguyễn Thị Phương T1, còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 0,5972g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine;
- 04/ 01 túi nylon; 01 cân điện tử; 10 gói nylon rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu;
- 05/ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 1: 358863668037251, Imei 2: 358863668356784 cùng 01 sim cắt, 01 sim có số thuê bao 0778603918 thu giữ của G;
- 06/ 01 cân điện tử; 09 gói nylon rỗng; 01 gói giấy;
- 07/ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 1: 353751251732591, Imei 2: 353751251260999 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0902447308 thu giữ của T1.
- 08/ 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 866376045982417, Imei 2: 866376045982409 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0908859341 thu giữ của T1.
- 09/ Số tiền 980.000 đồng thu giữ của Lê Thị G được nộp vào Kho bạc nhà nước B1 theo giấy nộp tiền ngày 21/5/2024 tại Ngân hàng A.
Tại bản Cáo trạng số 333/CT-VKSBC ngày 07/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Lê Thị G và Nguyễn Thị Phương T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Thị G thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật và khai nhận đã sử dụng điện thoại hiệu Iphone có số Imei 1: 358863668037251, số Imei 2: 358863668356784 cùng 01 sim cắt, 01 sim có số thuê bao 0778603918 để liên lạc mua bán ma túy.
Bị cáo Nguyễn Thị Phương T1 thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật và khai nhận đã sử dụng điện thoại hiệu Iphone có số Imei 1: 353751251732591, Imei 2: 353751251260999 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0902447308 để chuyển tiền mua ma túy, còn điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 866376045982417, Imei 2: 866376045982409 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0908859341 bị cáo khai nhận không liên quan đến hành vi mua bán ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thị G và Nguyễn Thị Phương T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm b, i Khoản 2, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Lê Thị G từ 10 năm đến 11 năm tù và phạt tiền 20.000.000 đồng; đề nghị áp dụng điểm b, i Khoản 2, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T1 từ 8 năm đến 10 năm tù và phạt tiền 20.000.000 đồng. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:
Vào ngày 25/01/2024 tại địa chỉ E Tổ D, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an xã V, huyện B bắt quả tang:
Đối với Lê Thị G có hành vi bán 5g ma túy thể rắn loại Methamphetamine cho T1, và đã bán được 03 gói ma túy cho 02 người thanh niên không rõ lai lịch, khi bị bắt bị thu giữ số ma túy đựng trong 09 gói nylon còn lại là 4,9516g ma túy thể rắn loại Methamphetamine, nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời.
Đối với Nguyễn Thị Phương T1 đã có hành vi mua 5g ma túy loại Methamphetamine của G rồi bán được 02 gói cho 02 người không rõ lai lịch, khi bị bắt bị thu giữ số ma túy đựng trong 03 gói nylon còn lại là 0,7556g ma túy thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời.
Như vậy, Lê Thị G và Nguyễn Thị Phương T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng số ma túy mà G phải chịu trách nhiệm hình sự là 9,9516g Methamphetamine, tổng số ma túy mà T1 phải chịu trách nhiệm hình sự là 5g Methamphetamine.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cha là ông Lê Văn V là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại quy định tại điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nguyễn Thị Phương T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông ngoại là Nguyễn Văn N1 là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Về xử lý vật chứng:
- + 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Lê Thị G còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 0,2498g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine: Cần tịch thu, tiêu hủy.
- + 06 gói nylon có viền màu đỏ chứa tinh thể không màu thu giữ của Lê Thị G, còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 4,0116g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine: Cần tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu thu giữ của Nguyễn Thị Phương T1, còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 0,5972g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine: Cần tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 túi nylon; 01 cân điện tử; 10 gói nylon rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu: Cần tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 cân điện tử; 09 gói nylon rỗng; 01 gói giấy: Cần tịch thu, tiêu hủy.
- + Số tiền 980.000 đồng thu giữ của Lê Thị G được nộp vào Kho bạc nhà nước B1 theo giấy nộp tiền ngày 21/5/2024 tại ngân hàng A: Số tiền G có được từ việc bán ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 1: 358863668037251, Imei 2: 358863668356784 cùng 01 sim cắt, 01 sim có số thuê bao 0778603918 thu giữ của G: Có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 1: 353751251732591, Imei 2: 353751251260999 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0902447308 thu giữ của T1: Có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 866376045982417, Imei 2: 866376045982409 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0908859341 thu giữ của T1: Không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho Nguyễn Thị Phương T1.
[5] Về đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chỗ ở trước khi bị bắt của cả hai bị cáo là phòng trọ, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố Lê Thị G, Nguyễn Thị Phương T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
-
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Thị G: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.
-
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T1: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.
-
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Lê Thị G còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 0,2498g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- + Tịch thu, tiêu hủy 06 gói nylon có viền màu đỏ chứa tinh thể không màu thu giữ của Lê Thị G, còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 4,0116g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu thu giữ của Nguyễn Thị Phương T1, còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có tổng khối lượng 0,5972g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 túi nylon; 01 cân điện tử; 10 gói nylon rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu.
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 cân điện tử; 09 gói nylon rỗng; 01 gói giấy.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 1: 358863668037251, Imei 2: 358863668356784 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0778603918.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 1: 353751251732591, Imei 2: 353751251260999 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0902447308.
- + Trả lại cho Nguyễn Thị Phương T1 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 866376045982417, Imei 2: 866376045982409 cùng 01 sim cắt có số thuê bao 0908859341.
- (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 980.000 đồng thu giữ của Lê Thị G (đã được nộp vào Kho bạc nhà nước B1 theo giấy nộp tiền ngày 21/5/2024 tại Ngân hàng N2 Chi nhánh Nam Thành phố H).
-
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Lê Thị G và Nguyễn Thị Phương T1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 296/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 296/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Giang
