|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 296/2024/HS-ST Ngày: 05 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Quản – Nguyên chủ tịch hội nông dân
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa – Giáo viên hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 376/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1733/2024/QĐXXST-HS ngày 22/10/2024, đối với bị cáo:
Võ Đăng K, sinh ngày 04/02/2008; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: 32/3, tổ1, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Thanh S, sinh năm 1979, con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; Gia đình có 02 hai anh em, bị can là con út; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo K: Ông Võ Thanh S
Địa chỉ: 3, Tổ A, Khu phố D (Nay là Khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị hại: Ông Phạm Tú Nam H1, sinh năm: 1972
Địa chỉ: A đường T, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Võ Tâm T, sinh ngày: 24/7/2009 (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho Võ Tâm T: Bà Phạm Ngọc T1 là mẹ ruột của T
Địa chỉ: 1, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1981
Địa chỉ: C đường N, Tổ A, Khu phố E, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
Ông Võ Thanh S, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: 3, Tổ A, Khu phố D (Nay là Khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Nguyễn Khắc T2 là Luật sư của Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H bào chữa cho bị cáo Võ Đăng K (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ ngày 18/3/2024, Võ Đăng K (sinh ngày 04 tháng 02 năm 2008) điều khiển xe mô tô biển số 51Y3 – 3495 chở theo Võ Tâm T (sinh ngày 24 tháng 7 năm 2009) đi đến sân bóng đá “VOV”, địa chỉ: 3, đường Đ, khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi. Tại đây K phát hiện 01 chiếc ba lô màu xanh của anh Phạm Tú Nam H1 (là huấn luyện viên dạy bóng đá) đang để trên ghế nhựa không có người trông coi. Do cần tiền tiêu xài nên K rủ T trộm cắp ba lô của anh H1 thì T đồng ý rồi T đi lại lấy trộm ba lô này, còn K đứng cảnh giới. Sau đó, K đi đến bãi xe lấy xe mô tô biển số 51Y3-3495 điều khiển chở T tẩu thoát; trên đường đi, T kiểm tra trong ba lô có các tài sản bao gồm: 01 cái bóp màu nâu bên trong có số Tiền Việt Nam 1.450.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe biển số 53D1-405.06, 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2, căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng S2 và 01 thẻ ngân hàng K1 (T nói với K chỉ có số tiền 450.000 đồng), 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng. Sau khi lấy trộm tài sản thì T chia cho K số tiền 200.000 đồng, trên đường đi tìm nơi bán điện thoại di động thì K đã vứt bỏ ba lô màu xanh và cái bóp màu nâu tại bãi đất trống, đối diện nhà số: A, đường D, KDC A, phường T, Quận A. Sau đó, T và K đi đến cửa hàng mua bán đồ điện cũ, địa chỉ: C, đường N, khu phố E, phường Đ, Quận A (do chị Phạm Thị L làm chủ), K cầm điện thoại Iphone 11 Promax, T cầm điện thoại Iphone 6 nói với chị L về nguồn gốc 02 điện thoại di động là do nhặt được, không biết mật khẩu, chị L đồng ý mua 02 điện thoại trên với giá tiền 1.100.000 đồng. Sau khi bán điện thoại thì T chia cho K số tiền 500.000 đồng, T giữ số tiền 600.000 đồng. Tổng cộng số tiền do trộm cắp mà có thì K được chia số tiền số tiền 700.000 đồng đã tiêu xài hết, T được chia số tiền 1.850.000 đồng, đã tiêu xài hết số tiền 650.000 đồng, còn lại số 1.200.000 đồng. Ngày 18/3/2024, anh Phạm Tú Nam H1 đến Công an phường Đ, Quận A trình báo sự việc.
Tại Cơ quan CSĐT điều tra Công an Q, Võ Đăng K và Võ Tâm T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung vụ án nêu trên.
Chị Nguyễn Thị L1 là chủ cửa hàng mua bán đồ điện cũ, địa chỉ: C, đường N, khu phố E, phường Đ, Quận A có lời khai: vào ngày 18/3/2024, chị L1 có mua 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng của K và T với số tiền 1.100.000 đồng, nhưng chị L1 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có (K và T cho chị L1 biết là điện thoại do nhặt được); chị L1 đã giao nộp lại 02 chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 USB, màu bạc, nhãn hiệu HP, bên trong ghi nhận hình ảnh K và T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/3/2024 (lưu hồ sơ vụ án).
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, 256gb, Imei 1: 353889101204153, Imei 2: 353889101224177 (đã trả lại cho chủ sở hữu anh H1). Tại bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận có trị giá số tiền là: 8.750.000 đồng (BL: 142-144).
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6, 16gb, màu vàng, Imei: 358361069606931 (đã trả lại cho chủ sở hữu anh H1). Tại bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận có trị giá số tiền là: 850.000 đồng (BL: 142-144).
- 01 ba lô màu xanh-đen, hiệu K2. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản Quận A, kết luận: không đủ cơ sở định giá (đã trả lại cho chủ sở hữu anh H1).
- 01 cái bóp màu nâu. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản Quận A, kết luận: không đủ cơ sở định giá (đã trả lại cho chủ sở hữu anh H1).
- 01 căn cước công dân mang tên Phạm Tú Nam H1 (đã trả lại cho chủ sở hữu anh H1).
- 01 xe mô tô, biển số 51Y3-3495, SM: HC08E-0140717, SK: HC08082Y-140705 (phương tiện do K chở T đến sân bóng đá để trộm cắp tài sản), do ông Võ Thanh S (cha ruột Võ Đăng K) đứng tên chủ sở hữu, vào ngày 18/3/2024 K mượn xe mô tô biển số 51Y3-3495 của ông S nhưng ông S không biết K sử dụng xe mô tô đi trộm cắp tài sản (Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho chủ sở hữu)
- Tiền Việt Nam: 2.550.000 đồng (do Võ Tâm T tự nguyện giao nộp 1.850.000 đồng và Võ Đăng K tự nguyện giao nộp 700.000 đồng).
Về phần trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Phạm Tú Nam H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường trong vụ án.
Tại Bản cáo trạng số: 291/CT-VKSQ12 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Đồng ý với đề nghị về hình phạt của Viện Kiểm S1 thống nhất về tội danh và điều luật mà bản cáo trạng truy tố. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi khả năng nhận thức còn hạn chế, ngoài ra bị cáo còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị hại đã nhận lại tài sản và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn Viện Kiểm S1 đề nghị.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo K: mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho K.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Đăng K khai nhận về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 18/3/2024, tại sân bóng đá “V”, địa chỉ: số C, đường Đ, khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Đăng K và Võ Tâm T lén lút lấy trộm 01 ba lô màu xanh của anh Phạm Tú Nam H1, bên trong có các tài sản bao gồm: 01 cái bóp màu nâu (trong bóp có số tiền 1.450.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe biển số 53D1-405.06, 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng S2 và 01 thẻ ngân hàng K1), 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 11.050.000 đồng.
Hành vi của Võ Đăng K đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với Võ Tâm T (sinh ngày 24 tháng 7 năm 2009), tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 18/3/2024) thì T chưa đủ 16 tuổi tuổi, do đó chưa đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với chị Phạm Thị L là chủ cửa hàng mua bán đồ điện cũ, địa chỉ: C, đường N, khu phố E, phường Đ, Quận A, không biết 02 chiếc điện thoại di động mà T và K đã bán cho chị L có nguồn gốc do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
- Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy phải xử nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội.
Bị cáo K là người rủ T (dưới 18 tuổi) thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức còn hạn chế, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không phạm tội khác; bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, bị hại đã nhận lại tài sản và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội, theo các Điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB, màu bạc, nhãn hiệu HP, bên trong ghi nhận hình ảnh K và T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/3/2024 (lưu hồ sơ vụ án).
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho bị hại anh H1 các tài sản sau: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, 256gb, Imei 1: 353889101204153, Imei 2: 353889101224177; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6, 16gb, màu vàng, Imei: 358361069606931 (đã trả lại cho chủ sở hữu anh H1) và 01 ba lô màu xanh-đen, hiệu Keep & Fly; 01 cái bóp màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Tú Nam H1.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông Võ Thanh S: 01 xe mô tô, biển số 51Y3-3495, SM: HC08E-0140717, SK: HC08082Y-140705.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Võ Đăng K đền bù thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (bút lục 76 và 118).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L không yêu cầu bị cáo K và T trả lại số tiền 1.100.000 đồng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước T3: 2.550.000 đồng (do Võ Tâm T tự nguyện giao nộp 1.850.000 đồng và Võ Đăng K tự nguyện giao nộp 700.000 đồng).
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51, Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Đăng K 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB, màu bạc, nhãn hiệu HP, bên trong ghi nhận hình ảnh K và T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/3/2024.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam: 2.550.000 đồng (do Võ Tâm T tự nguyện giao nộp 1.850.000 đồng và Võ Đăng K tự nguyện giao nộp 700.000 đồng).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Đăng K phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Triệu Thị Thùy Trang |
Bản án số 296/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 296/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
