|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 296/2024/HSST Ngày: 30-09-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Rồi
- Ông Võ Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 273/2024/HSST-QĐ ngày 10 tháng 09 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Tổ 1, ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Trần Thị C (chết), có 07 anh, chị, em (kể cả bị cáo), có vợ tên Vương Thị Ngọc P và 01 con ruột tên Vương Trần Hoàn H1 sinh năm 2017; tiền án: ngày 15 tháng 09 năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 07 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường cho bị hại; tiền sự: năm 2019 bị Ủy ban nhân dân huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3233 ngày 25 tháng 02 năm 2019 về hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác đánh bạc trái phép, chưa nộp phạt; nhân thân: năm 1992 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”, năm 1994 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tuyên phạt 16 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản, năm 1996 bị Tòa án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tuyên phạt 18 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, bị bắt tạm giam ngày 14/05/2024, “có mặt”.
Bị hại: Bà Phạm Thị Cẩm T1, sinh năm 1998; địa chỉ: số D, Tỉnh lộ 15, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vương Thị Ngọc P, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 31 tháng 05 năm 2022, Trần Văn H một mình điều khiển xe đạp hiệu Martin đi đến phía sau nhà chị Phạm Thị Cẩm T1 tại địa chỉ số D, Tỉnh lộ 15, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh dùng kềm cắt lưới hàng rào B40 đột nhập vào bãi đỗ xe tải của nhà chị T1, sau đó, H dùng kềm mở các mối nối của 06 bình ắc quy của các xe tải đang đậu ở bãi đậu xe rồi dùng xe đạp chở về cất giấu tại một căn nhà bỏ hoang thuộc Tổ 1, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cất giấu xong thì về nhà ngủ, đến sáng nghe tin Công an đang tìm kiếm mình nên H bỏ trốn.
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, H gọi điện thoại báo cho chị Vương Thị Ngọc P (là người sống chung như vợ chồng với H) thú nhận việc trộm cắp 06 bình ắc quy của chị T1, rồi H chỉ nơi cất giấu 06 bình ắc quy nhờ chị P đến lấy và giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Chị P đã giao nộp 06 bình ắc quy H trộm cắp cho Cơ quan điều tra. Còn H bỏ trốn khỏi địa phương, chuyển đến sinh sống nhiều nơi khác nhau, đến ngày 11 tháng 05 năm 2024 thì bị bắt.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 113/Kl-HĐĐG TS ngày 01 tháng 07 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 Bình ắc quy GSN100 (12V-100AH) trị giá 1.200.000 đồng; 01 bình ắc quy GSN105 D31 Platinum trị giá 1.300.000 đồng; 02 bình ắc quy GSN 105 D31R Platinum trị giá 2.600.000 đồng; 02 bình ắc quy GSN120 (12V-120AH) trị giá 3.000.000 đồng (tất cả 06 bình ắc quy đã qua sử dụng). Tổng giá trị 06 bình ắc quy là 8.100.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 06 bình ắc quy đã được trả lại cho bị hại.
Tại bản Cáo trạng số 226/CT-VKS.CC ngày 13 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có một tiền án nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H khai nhận: khoảng 01 giờ ngày 31 tháng 05 năm 2022 tại bãi đậu xe ô tô số 489, Tỉnh lộ 15, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã lén lút lấy trộm 06 bình ắc quy của chị Phạm Thị Cẩm T1, trị giá là 8.100.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi lén lút chiếm đoạt 06 chiếc bình ắc quy trị giá 8.100.000 đồng của người bị hại nhằm mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ; vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, gây nên nỗi bức xúc đối với người dân, song để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo vừa có tiền án, vừa có tiền sự, ngoài ra còn có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không sửa đổi bản thân mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện ý thức của bị cáo rất coi thường pháp luật, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tiền sự và một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 06 chiếc bình ắc quy cho người bị hại là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại bà Phạm Thị Cẩm T1 đã được nhận lại 06 chiếc bình ắc quy và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Trần Văn H tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 14 tháng 05 năm 2024;
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: bị cáo Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 296/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 296/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
