|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 296/2023/HS-ST
Ngày: 19-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Văn Chính
Bà Lê Thị Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 317/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Hữu L, giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 2000; nơi sinh: tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn T (Lê Phước T1) và bà Lê Thị Q ; vợ, con: không.
Tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 27/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 207/2019/HSST. Bị cáo chấp hành hình phạt tù xong ngày 23/02/2022, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/7/2023 (có mặt).
Bị hại: Anh Lê Đình Đ, sinh năm 2003;
Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã K, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ tạm trú: 32F ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Anh T2, sinh năm 2001;
Địa chỉ: E, ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2. Ông Lư Hoàng M, sinh năm 2001;
Địa chỉ: E ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Hữu L có quen biết với Lê Đình V. Khoảng 01 giờ ngày 25/7/2023, L về phòng trọ của V tại số C ấp H, xã B, huyện H để ngủ nhờ qua đêm cùng V và Lê Đình Đ. Sáng V đi học, còn lại L và Đ ở lại phòng. Lợi thức dậy thì thấy Đ còn ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L lục tìm trong túi đeo chéo của Đ lấy đi 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 1.300.000 đồng, rồi lấy chìa khóa xe máy đi xuống khu vực để xe nhà trọ lén lút lấy trộm 01 chiếc xe Honda Winer biển số 59N3-252.62 của Lê Đình Đ rồi mở khóa, nổ máy tẩu thoát.
Lợi tiêu xài hết số tiền mặt trộm được thì đăng bán chiếc xe Honda Winer biển số 59N3-252.62 trên mạng xã hội Facebook bằng tài khoản tên Nguyễn P với giá 7.000.000 đồng. Ngày 26/7/2023, V phát hiện bài đăng bán xe có đặc điểm giống chiếc xe bị mất và nhờ anh Nguyễn Văn B nhắn tin qua Facebook hẹn gặp L để mua xe tại địa chỉ A Đ, Phường A, quận T. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, anh B cùng với anh V và anh Đ đến địa chỉ trên phát hiện L đang điều khiển xe Honda Winer biển số 59N3-252.62 thì cùng nhau khống chế L báo Công an P1, quận T. Vụ việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: 01 xe máy Honda Winer màu đỏ trắng biển số 59N3-252.62 trị giá 18.000.000 đồng; 01 ví da màu nâu bên ngoài có chữ Levis trị giá 100.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
01 ví da màu nâu có chữ Levis đã qua sử dụng.
01 xe máy Honda Winer biển số 59N3-252.62, số khung RLHKC2604GY393063, số máy KC26E1239 585: Qua xác minh, xe do anh Trần A T2 đứng tên, anh T2 đã bán cho cửa hàng xe máy Lư M địa chỉ 703/13 Tỉnh lộ 10, phường B, quận B do anh Lư Hoàng M làm chủ. Sau đó, anh M bán lại cho anh Lê Đình Đ.
Về dân sự: Anh Lê Đình Đ đã nhận lại tài sản là xe máy Honda Winer biển số 59N3-252.62, ví da màu nâu và 1.300.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường. Do đó, anh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số 297/CT-VKSHM ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hữu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố phát biểu: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Lê Hữu L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ, vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 01 giờ ngày 25/7/2023, tại phòng trọ của anh V địa chỉ số C ấp H, xã B, huyện H, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong phòng. L lục tìm trong túi đeo chéo của anh Đ lấy 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 1.300.000 đồng, lấy chìa khóa xe máy đi xuống khu vực để xe nhà trọ để lấy trộm 01 chiếc xe Honda Winer biển số 59N3-252.62 của anh Đ rồi mở khóa, nổ máy tẩu thoát.
Sau đó, L đăng bán chiếc xe Honda Winer biển số 59N3-252.62 trên mạng xã hội Facebook bằng tài khoản Nguyễn Phiii với giá 7.000.000 đồng. Ngày 26/7/2023, anh V phát hiện bài đăng bán xe có đặc điểm giống chiếc xe bị mất và nhờ anh Nguyễn Văn B nhắn tin qua Facebook hẹn gặp L mua xe tại địa chỉ A Đ, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, anh B cùng với anh V và anh Đ đến địa chỉ trên phát hiện L đang điều khiển xe Honda Winer biển số 59N3-252.62 thì cùng nhau khống chế L báo Công an P1, quận T. Vụ việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý theo thẩm quyền.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt được trị giá 19.400.000 đồng.
- [2] Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- [3] Bị cáo L là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện một cách lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá 19.400.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Lê Hữu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có tiền án, chưa được xóa án tích nay phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- [5] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.300.000 đồng. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- [6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xét.
- [8] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
- [9] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xử phạt bị cáo Lê Hữu L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/7/2023.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Hữu L phải chịu 200.000 đồng.
- Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mai |
Bản án số 296/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 296/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
