Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 296/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 18-8-2023

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố B.

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 921/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/4/2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 330/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1993.

Địa chỉ thường trú: tổ 28, khu phố 4, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ hiện tạm trú: tổ 25, khu phố 2, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

– Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài Th, sinh năm 1989.

Địa chỉ: tổ 28, khu phố 4, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà Vân A có đơn xin vắng mặt, ông Th vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Vân A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hoài Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2016.

Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Nguyên nhân do ông Thương thường xuyên chơi bời, nợ nần, hay bỏ nhà đi, không chịu chăm lo cuộc sống gia đình... Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vì mâu thuẫn nên hai vợ chồng không còn sống chung, bà và con đã dọn ra ngoài sống. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà không còn tình cảm với ông Thương nên đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th.

Về con chung: Bà và ông Th có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 23/9/2017. Khi ly hôn bà V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giao dục con chung; không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại con đang sống cùng bà, bà đang làm nhân viên văn phòng, thu nhập bình quân 12.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện và khả năng để nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Hoài Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Th.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

  • Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà Vân A, ông Th không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Vân A yêu cầu ly hôn với ông Th là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Về con chung: Bà Vân A và ông Th có 01 con chung cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 23/9/2017. Giao con chung là Gia H cho bà Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, ông Th không cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông Th nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
  • Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Vân A phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Nguyễn Thị Vân A yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th và giải quyết vấn đề con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bà Nguyễn Thị Vân A là nguyên đơn, ông Nguyễn Hoài Th là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Vân A nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th có đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ 28, khu phố 4, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Hoài Th đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông Th theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Vân A và ông Nguyễn Hoài Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2016 nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà V, sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà không còn tình cảm với ông Th nên đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông Th đến Tòa làm việc nhưng ông Th vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông Th không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà Vân A. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 05/6/2023 thì bà Vân A và ông Th không còn sống chung, có một con chung đang sống cùng bà Vân A. Về công việc và thu nhập của hai vợ chồng thì địa phương không nắm rõ.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Vân A và ông Th là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vân A, giải quyết cho bà Vân A được ly hôn với ông Th để trả tự do cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Bà Vân A và ông Th có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 23/9/2017. Bà Vân A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông Th không đến Tòa làm việc nên không ghi nhận được ý kiến. Hiện nay, bà Vân A đang làm nhân viên văn phòng, thu nhập bình quân 12.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện và khả năng để nuôi con. Cháu Gia H đang sống cùng mẹ ở phường Tr, thành phố B nên giao cháu Gia H cho bà Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời, ông Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông Th nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà Vân A phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Vân A. Bà Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 23/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, tạm thời ông Nguyễn Hoài Th không cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Vân A phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007250 ngày 12/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. B;
  • - VKS TP B;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 296/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 296/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vợ chồng mâu thuẫn tình cảm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger