Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 296/2023/HS-ST

Ngày: 05/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc;
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ-Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 245/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Hải Đ, sinh năm: 2004 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi thường trú: Số F, Tổ F, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H, sinh năm: 1973 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982; anh, chị, em ruột gồm có 02 (hai) người kể cả bị cáo; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Kiên H1, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
  • Địa chỉ: Số A N, khóm T, phường A, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
  • Ông Trần Anh P, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
  • Địa chỉ: Số I Thượng Thâu T, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 05/7/2023, Đội cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an huyện C cùng Công an xã P, huyện C tuần tra trên đường giao thông nông thôn thuộc Ấp C, xã P, huyện C thì phát hiện ô tô biển số 70A-218.42 đang dừng trên đườngcó biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thời điểm kiểm tra có Kiên H1 đang ngồi ở ghế tài xế, Vũ Hải Đ đang ngồi phía trước bên phải. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trên thảm lót sàn xe ngay vị trí Đ ngồi có 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có 01 túi nylon chứa 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng và 10 viên nén màu tím. Số ma túy này là của Đ. Trước đó, vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 05/7/2023, một người thanh niên tên N (chưa rõ lai lịch) liên lạc với Đ hỏi mua ma túy gồm: Một hộp năm ma túy khay và 10 viên thuốc lắc thì Đ đồng ý bán với giá 2.300.000 đồng. ĐN thỏa thuận giao nhận tiền và ma túy ở khu vực ấp C, xã P, huyện C, chi phí di chuyển do N trả. Sau đó, Đ đến quán karaoke A tại địa chỉ Số F Đường A, phường B, quận B gặp một người bạn tên T1 (chưa rõ lai lịch) hỏi mua số ma túy trên với giá 2.000.000 đồng nhưng xin nợ lại thì T1 đồng ý bán và giao cho Đ 01 bao thuốc lá hiệu 555 bên trong có 01 túi nylon chứa 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy khay và 1 viên nén màu tím là thuốc lắc. Sau đó, Đ liên lạc thuê H1 dùng xe ô tô biển số 70A-218.42 chở từ quán A1 đến huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến đoạn đường D thuộc Ấp C, xã P, huyện C thì Đ yêu cầu H1 dừng xe chờ. Hùng V dừng xe thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang và đưa về trụ sở làm việc.

Căn cứ Kết luận giám định số: 7404/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H xác định:

  • Tinh thể mau trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,1778 gam, loại Ketamine.
  • 10 viên nén màu tím được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,1987 gam, loại MDMA.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1484/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 357232095975312 đã qua sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia có số IMEI: 351288850430204 đã qua sử dụng đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • 01 (Một) bao thuốc lá hiệu 555 đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

Tại Cáo trạng số 230/CT-VKS.CC ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố Vũ Hải Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Hải Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo quen biết với người bạn ngoài xã hội tên T1 và biết T1 có bán ma túy, vì cần tiền tiêu xài nên ngày 05/7/2023, lúc 17 giờ 00 phút khi có người tên Nhuyện C điện thoại hỏi mua ma túy gồm 01 hộp năm ma túy khay và 10 viên thuốc lắc với giá 2.300.000đ thì bị cáo đồng ý, bị cáo và N thỏa thuận giao tiền và nhận ma túy ở khu vực ấp C, xã P, huyện C, tiền xe do N trả. Sau đó bị cáo đến quán karaoke A ở quận B gặp T1 hỏi mua số ma túy trên với giá 2.000.000đ nhưng xin nợ lại, T1 đồng ý bán và giao cho bị cáo 01 bao thuốc lá hiệu 555 bên trong có 01 túy nylon chứa 02 gói nylon ma túy khay và thuốc lắc. Bị cáo điện thoại cho người tên H1 thuê xe ô tô chở bị cáo từ quận B đến huyện C, khi lên xe bị cáo để ma túy trên thảm lót sàn xe ghế phía trước bên tay phải của H1, do H1 tập trung lái xe nên không biết bị cáo để ma túy trên thảm lót sàn xe. Khi xe chạy đến đoạn đường số D thuộc ấp C, xã P, huyện C, bị cáo kêu H1 dừng xe chờ, H1 vừa dừng xe thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Kiên H1 vắng mặt, lời khai của ông H1 tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thể hiện: Ông là tài xế chạy xe ô tô, vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05/7/2023 ông nhận chở bị cáo Đ từ quận B đến huyện C, khi đến đoạn đường số D thuộc ấp C, xã P, huyện C thì bị cáo kêu ông dừng xe chờ một chút, ông vừa dừng xe thì bị Công an đến kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện trên tấm lót sàn xe ô tô ngay tại ghế bên phải bị cáo ngồi có 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có 01 gói nylon chứa 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng và 10 viên nén màu tím, ông nghe bị cáo nói bị cáo mang ma túy đi bán cho người khác. Công an có thu giữ của ông một xe ô tô hiệu Toyota Vios biển số 70A-218.42, xe này ông thuê lại của người khác dùng làm phương tiện chở khách thuê, lúc thuê xe bị cáo chỉ nói chở bị cáo đến huyện C, đi đến đâu bị cáo chỉ đường đến đó, ông không biết bị cáo có mang ma túy lên xe. Ông biết bị cáo do bị cáo làm bảo vệ của quán A1quận B, bị cáo hay giới thiệu khách thuê xe cho ông.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Anh P vắng mặt, lời khai của ông P tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thể hiện: Ông là người đứng tên chủ sử dụng xe ô tô hiệu Toyota Vios biển số 70A-218.42, vào ngày 01/01/2022 ông và ông Kiên H1 có ký Hợp đồng thuê xe ô tô tự lái để ông H1 chạy G. Hiện ông đã được nhận lại xe ô tô hiệu Toyota Vios biển số 70A-218.42 và không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Hải Đ mức án từ 03 (Ba) năm đến 04 (B) năm tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 32 và Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Về vật chứng:
    • + 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1484/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy;
    • + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 357232095975312 đã qua sử dụng, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo;
    • + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia có số IMEI: 351288850430204 đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng để liên lạc bán ma túy nên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
    • + 01 (Một) bao thuốc lá hiệu 555 đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Vũ Hải Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán cho người tên N (không rõ lai lịch) vào ngày 05/7/2023 với khối lượng 3,1778g loại Ketamine và 3,1987g loại MDMA, bằng hành vi nêu trên thì bị cáo Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Vũ Hải Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Vũ Hải Đ là nguy hiểm, với phương thức đi mua chất ma túy về bán lại cho người khác. Hành vi này chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt là cần thiết.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1484/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 357232095975312 đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xét trả lại bị cáo;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia có số IMEI: 351288850430204 đã qua sử dụng bị cáo dùng liên lạc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử xét tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
  • 01 (Một) bao thuốc lá hiệu 555 là đối tượng phạm tội nên Hội đồng xét xử xét tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, người thanh niên tên T1 (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo và người thanh niên tên N (chưa rõ lai lịch), cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa triệu tập lấy lời khai được, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc bị cáo Vũ Hải Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Hải Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Hải Đ 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2023.

2. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1484/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên và 01 (Một) bao thuốc lá hiệu 555;
  • Trả lại 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 357232095975312 đã qua sử dụng cho bị cáo Vũ Hải Đ;
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia có số IMEI: 351288850430204 đã qua sử dụng;

(Vật chứng được liệt kê theo Lệnh nhập kho vật chứng số 219/LNK-CSĐT-MT ngày 15/9/2023 (bút lục số 58) và Phiếu nhập kho vật chứng số 219/PNK ngày 15/9/2023 (bút lục số 59) của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C).

3. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo Vũ Hải Đ phải chịu.

4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 296/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 296/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger