|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 296/2025/HS-PT Ngày 23 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;
Các Thẩm phán: Ông Trần Tiến Nghĩa;
Ông Trần Nam Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Hoàng Minh D (và đồng phạm); do có kháng cáo, kháng nghị của bị cáo Hoàng Minh D (và đồng phạm) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
* Bị cáo có kháng cáo, kháng nghị:
1/ Hoàng Minh D (Tên gọi khác: Cu em), sinh năm 1978 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố I, phường X (số cũ: tổ G, khu phố C, phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Hoàng Ngọc H sinh năm 1951 và bà Trần Thị H1 sinh năm 1955. Có vợ tên Mai Thị Hồng T sinh năm 1976 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17/4/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 64/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 06/3/2004 tại Trại giam X.
Ngày 30/9/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 (bảy) tháng về tội Đánh bạc (Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 30/9/2024).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/3/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.
2/ Dương Bá H2, sinh năm 1977 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12. Con ông Dương Bá M sinh năm 1958 và bà Tô Thị T1 sinh năm 1958. Vợ tên Nguyễn Thị Mỹ L sinh năm 1976 và 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 14/7/2022, bị Công an thành phố L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPHC-ĐCSHS về hành vi “Đánh bạc” trái phép, đã thi hành xong vào ngày 25/7/2022.
Nhân thân: Ngày 17/9/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 97/2009/HSST.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2022 đến ngày 03/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.
3/ Võ Thành T2 (Tên gọi khác: T2 khỉ), sinh năm 1987 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 05/12. Con ông Võ Văn K sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Mỹ H3 sinh năm 1962. Vợ tên Võ Thị Thảo N sinh năm 1986 và có 01 con sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2022 đến ngày 20/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.
4/ Võ Ánh D1, sinh năm 1987 tại Đồng Nai. Nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở: khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12. Con ông Võ Nghiệp D2 (chết) và bà Phạm Thị N1; sinh năm 1959. Có vợ tên T3 Nguyễn Phương Q, sinh năm 1993 và có 01 con, sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2022 đến ngày 20/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.
5/ Nguyễn T4 (Tên gọi khác: H2), sinh năm 1960 tại Quảng Nam. Nơi cư trú: khu phố I, phường X, (số cũ là: tổ C, khu phố C, phường X, thành phố L, Đồng Nai. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12. Con ông Nguyễn Văn L1 (chết) và bà Nguyễn Thị Đ sinh năm 1939. Có vợ tên Châu Thị Kim H4 sinh năm 1962 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/3/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 14/2014/HSST, chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 18/3/2015 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho hưởng án treo số 06/GCN-CQTHAHS.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12/2022 cho đến nay.
(Bị cáo D1, T4 có mặt; bị cáo D, H2, T2 vắng mặt).
Trong vụ án còn có bị cáo khác, nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Vào sáng ngày 27/11/2022, Hoàng Minh D ngồi uống nước tại quán C2 thuộc khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cùng với Trần Ngọc Hải K1 và một người tên C (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Tại đây, D rủ K1 và C đến ngôi nhà hoang thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để tổ chức đánh bạc, thắng thua bằng tiền, dưới hình thức lắc “T5” – “Xỉu”, K1 và C đồng ý.
D là người tổ chức sòng bạc này và trực tiếp thu tiền xâu, khi không có D tại sòng bạc thì Trần Ngọc H5 K1 là người sẽ thay D quản lý và thu tiền xâu. Để bảo đảm cho việc tổ chức, D gọi điện thoại rủ rê, lôi kéo nhiều người đến tham gia đánh bạc, ngoài ra D khai nhận có biết việc K1 và C có gọi một số người đến tham gia đánh bạc nhưng D không có ý kiến gì và cũng không trả tiền công cho K1 và C; thuê xe taxi (chưa rõ hãng xe và người điều khiển xe là ai) dẫn các đối tượng tham gia đánh bạc đến địa điểm đánh bạc; chuẩn bị địa điểm và dụng cụ đánh bạc là tấm bạt nhựa có ghi chữ “T5”, “Xỉu” để những người tham gia đánh bạc, cụ thể: D sử dụng số điện thoại 0888.788.xxx trực tiếp gọi điện thoại rủ Huỳnh Văn Ú; Võ Thành T2; Dương Bá H2, Lê Phạm Tấn P và Lưu Văn T6 đến tham gia đánh bạc. Đối tượng C sử dụng số điện thoại 0843.928.xxx gọi rủ Giêng Ngọc L2 và sử dụng số điện thoại 0976.263.xxx gọi rủ Võ Ánh D1 đến tham gia đánh bạc. Bên cạnh đó, trong quá trình tìm kiếm người tham gia đánh bạc, Nguyễn Thanh B và Trương Thanh N2, Lê Thị Thúy V, Nguyễn Văn T7, Nguyễn T4 đã chủ động liên hệ để hỏi D về việc tổ chức đánh bạc. Khi biết D đang chuẩn bị tổ chức đánh bạc vào chiều cùng ngày, tất cả đồng ý tham gia rồi đi đến quán C2 thì được 01 thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe ô tô đến chở vào địa điểm đánh bạc là căn nhà hoang tại phường X, thành phố L.
Hình thức đánh bạc lắc “T5” – “Xỉu”, thắng thua bằng tiền và cách thực hiện như sau:
Người làm cái (còn gọi là nhà cái) dùng 01 (một) cái dĩa bằng sứ, 01 (một) cái nắp bằng nhựa và 03 (ba) hột xí ngầu (mỗi hột xí ngầu có số nút từ 01 đến 06) để lắc. Sau khi lắc xong, người làm cái chưa mở nắp ra ngay mà để ở giữa sòng bạc cho
những người làm con (còn gọi là nhà con hoặc con bạc) đặt tiền với số tiền tùy ý vào trong ô “T5” ở bên tay phải hoặc ô “Xỉu” ở bên tay trái của người làm cái. Khi các con bạc đặt tiền xong, người làm cái sẽ mở nắp nhựa để thấy kết quả. Nếu kết quả là “Xỉu” (tổng số nút của 03 hột xí ngầu từ 03 đến 10) thì người làm cái thắng tiền của những người đặt “T5” và thua tiền của những người đặt “Xỉu” theo tỷ lệ 1:1. Ngược lại, nếu kết quả là “Tài” (tổng số nút của 03 hột xí ngầu từ 11 đến 18) thì người làm cái thắng tiền của những người đặt “Xỉu” và thua tiền của những người đặt “Tài” cũng theo tỷ lệ 1:1. Trường hợp nếu mở kết quả mà các hột xí ngầu nằm đè lên nhau (còn gọi là hột kê) thì người làm cái sẽ lắc lại và nếu 03 hột xí ngầu có số nút giống nhau (còn gọi là bão) thì người làm cái sẽ thắng tiền theo tỷ lệ 1:1 tùy theo kết quả là “T5” hay “Xỉu”, đồng thời số tiền thắng được sẽ chia đôi cho D. Ngoài số tiền bão nêu trên, người làm cái còn phải trả cho D tiền phí làm nhà cái với số tiền là 1.000.000 đồng/giờ.
Trong quá trình tham gia đánh bạc, Huỳnh Văn Ú mang theo số tiền 100.000.000 đồng, Võ Ánh D1 mang theo số tiền 102.600.000 đồng, Võ Thành T2 mang theo số tiền 55.000.000 đồng, Dương Bá H2 mang theo số tiền 40.000.000 đồng, Lê Phạm Tấn P mang theo số tiền 20.000.000 đồng, Nguyễn Văn T7 mang theo số tiền 10.000.000 đồng, Trương Thanh N2 mang theo số tiền 11.000.000 đồng, Nguyễn Thanh B mang theo số tiền 6.000.000 đồng, Lê Thị Thúy V mang theo số tiền 8.500.000 đồng, Nguyễn T4 mang theo số tiền 4.500.000 đồng, Lưu Văn T6 mang theo số tiền 2.000.000 đồng, Giêng Ngọc L2 mang theo số tiền 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi tất cả các đối tượng tham gia đánh bạc có mặt tại địa điểm đánh bạc. Do Huỳnh Văn Ú đang trên đường từ thành phố Hồ Chí Minh về L nên Võ Thành T2 rủ H2 góp tiền làm nhà cái. T2 với H2 góp mỗi người 40.000.000 đồng (tổng cộng được 80.000.000 đồng) để làm nhà cái.
Trước khi bắt đầu đánh bạc, Võ Thành T2 và H2 phân công nhiệm vụ như sau: Thành Tâm chịu trách nhiệm lắc các hột xí ngầu để những người tham gia đánh bạc đặt tiền, còn H2 chịu trách nhiệm giám sát việc đặt tiền của những người đánh và chung tiền. Đánh được khoảng 20 phút thì T2 và H2 thua hết số tiền 80.000.000 đồng nên Thành T2 và H2 không làm nhà cái nữa và nhường lại việc làm nhà cái cho Huỳnh Văn Ú. Khi Ú làm nhà cái thì Võ Thành T2 tiếp tục dùng số tiền 15.000.000 đồng còn lại; H2 nói vợ là Nguyễn Thị Mỹ L đưa thêm số tiền 6.000.000 đồng (đây là tiền chung của 02 vợ chồng) để cùng tham gia đánh bạc.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi việc đánh bạc đang diễn ra thì bị Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang 13 đối tượng gồm: Huỳnh Văn Ú, Võ Thành T2, Dương Bá H2, Võ Ánh D1, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Thanh B, Nguyễn T4, Giêng Ngọc L2, Lê Phạm Tấn P, Lưu Văn T6, Nguyễn Thị Mỹ L, Trương Thanh N2, Lê Thị Thúy V. Riêng Hoàng Minh D, Trần Ngọc Hải K1 và đối tượng tên C chạy thoát.
Khi bị bắt quả tang, các đối tượng tham gia đánh bạc đã thắng, thua như sau:
- Huỳnh Văn Ú mang theo số tiền 100.0000.000 đồng để làm nhà cái và khi bị phát hiện thì đã thua khoảng 10.000.000 đồng. Do bỏ chạy nên Ú bị rớt mất tiền và chỉ còn lại số tiền 400.000 đồng trên người.
- Võ Thành T2 mang theo số tiền 55.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì chỉ còn 21.000.000 đồng, thua 34.000.000 đồng.
- Dương Bá H2 mang theo số tiền 40.000.000 đồng và sau đó được Nguyễn Thị Mỹ L đưa thêm số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện thì H2 chỉ còn 5.000.000 đồng, thua 41.000.000 đồng.
- Võ Ánh D1 mang theo số tiền 102.600.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì còn 100.600.000 đồng, thua 2.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn T7 mang theo số tiền 10.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì vẫn còn đủ số tiền 10.000.000 đồng.
- Nguyễn Thanh B mang theo số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì có 7.000.000 đồng, thắng 1.000.000 đồng.
- Lê Phạm Tấn P mang theo số tiền 20.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì vẫn còn đủ số tiền 20.000.000 đồng.
- Trương Thanh N2 mang theo số tiền 11.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì chỉ còn 2.000.000 đồng, thua 9.000.000 đồng.
- Lưu Văn T6 mang theo số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì đã thua 500.000 đồng. Do bỏ chạy nên T6 bị rớt mất số tiền 1.500.000 đồng còn lại.
- Giêng Ngọc L2 mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì đã thua hết số tiền này.
- Lê Thị Thúy V mang theo số tiền 8.500.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì có 9.000.000 đồng, đã thắng 500.000 đồng.
- Nguyễn T4 mang theo số tiền 4.500.000 đồng để đánh bạc và khi bị phát hiện thì vẫn còn đủ số tiền 4.500.000 đồng.
Tổng số tiền các bị cáo Võ Thành T2, Dương Bá H2, Võ Ánh D1, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Thanh B, Nguyễn T4, Giêng Ngọc L2, Lê Phạm Tấn P, Lưu Văn T6, Nguyễn Thị Mỹ L, Trương Thanh N2, Lê Thị Thúy V sử dụng vào việc đánh bạc là 366.600.000 đồng.
*Về vật chứng thu giữ:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L thu giữ 01 (một) cái dĩa bằng sứ màu trắng, 01 (một) cái nắp bằng nhựa màu đen đỏ, 03 (ba) hột xí ngầu màu trắng, 01 (một) tấm bạt nhựa có ghi chữ “T5”, “Xỉu”.
- - Số tiền 48.150.000 đồng tại chiếu bạc;
- - Thu giữ của Huỳnh Văn Ú số tiền 400.000 đồng và - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen;
- - Thu giữ của Võ Thành T2 số tiền 21.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím than, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, 01 (một) xe máy mang biển số 60B7-124.86;
- - Thu giữ của Dương Bá H2 số tiền 5.000.000 đồng;
- - Thu giữ của Võ Ánh D1 số tiền 100.600.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen;
- - Thu giữ của Phạm Lê Tấn P1 số tiền 20.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung màu nâu;
- - Thu giữ của Nguyễn Thanh B số tiền 7.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng đồng;
- - Thu giữ của Nguyễn Văn T7 số tiền 10.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh;
- - Thu giữ của Lê Thị Thúy V số tiền 9.000.000 đồng;
- - Thu giữ của Trương Thanh N2 số tiền 2.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu vàng đồng;
- - Thu giữ của Nguyễn T4 số tiền 4.500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung màu đen, 01 (một) điện thoại di động hiệu N3 màu đen trắng;
- - Thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ L số tiền 1.500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng đồng;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng hồng của Giêng Ngọc L2;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh của Lưu Văn T6.
Tại bản cáo trạng số: 200/CT-VKSLK ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo Hoàng Minh D về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2, Võ Ánh D1, Nguyễn Văn T7, Trương Thanh N2, Lê Phạm Tấn P, Lê Văn T8, Lê Thị Thúy V, Giêng Ngọc L2, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn T4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Trương Thanh B1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Hoàng Minh D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2, Võ Ánh D1, Nguyễn T4 phạm tội “Đánh bạc”. - Áp dụng khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Minh D 01 (một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, buộc bị cáo D chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian giam giữ trước đó từ ngày 06/02/2023 đến 14/3/2023 và từ ngày 06/8/2023 đến 04/11/2023.
3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Dương Bá H2 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
*Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Võ Ánh D1 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
*Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Võ Thành T2 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
*Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành 0 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
- - Ngày 19 tháng 02 năm 2025, bị cáo Võ Ánh D1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.
- - Ngày 27 tháng 02 năm 2025, bị cáo Võ Thành T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt;
- Ngày 13 tháng 6 năm 2025, bị cáo Võ Thành T2 có đơn xin rút kháng cáo bản án sơ thẩm;
- Ngày 13 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo về việc rút đơn kháng cáo số 324/2025/TB-TA của bị cáo Võ Thành T2.
- - Ngày 27 tháng 02 năm 2025, bị cáo Dương Bá H2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt;
- Ngày 20 tháng 6 năm 2025, bị cáo Dương Bá H2 có đơn xin rút kháng cáo bản án sơ thẩm;
- Ngày 20 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo về việc rút đơn kháng cáo số 341/2025/TB-TA của bị cáo Dương Bá H2.
4. Kháng nghị:
Ngày 13/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 100/QĐ-VKS-P7, như sau:
Kháng nghị phúc thẩm một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai về hình phạt đối các bị cáo Hoàng Minh D, Nguyễn T4.
Đề nghị xét xử vụ án theo hướng sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh về hình phạt theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Minh D, về tội “Tổ chức đánh bạc” và không cho bị cáo Nguyễn T4 được hưởng án treo, chuyển thành hình phạt tù có thời hạn.
5. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật; tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo Hoàng Minh D cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi Cha mẹ già yếu, vợ bị cáo đang bị bệnh; hiện nay, bị cáo D đang chấp hành án, nên Viện kiểm sát xin rút một phần kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Minh D.
Đối với bị cáo Nguyễn T4, đã bị Tòa án xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, về tội “Đánh bạc”. Bị cáo T4 phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo nhưng Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn T4 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, về tội “Đánh bạc” là chưa đúng quy định pháp luật, nên đề nghị không cho bị cáo Nguyễn T4 được hưởng án treo, chuyển thành hình phạt tù có thời hạn.
Đối với bị cáo Võ Ánh D1 số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là nhiều nhất, Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án trên là đúng pháp luật. Bị cáo Võ Ánh D1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới, nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Võ Ánh D1.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, không cho bị cáo Nguyễn T4 được hưởng án treo, chuyển thành hình phạt tù có thời hạn; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ánh D1 về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Hoàng Minh D, Dương Bá H2, Võ Thành T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- - Ngày 27 tháng 02 năm 2025, bị cáo Võ Thành T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt;
- Ngày 13 tháng 6 năm 2025, bị cáo Võ Thành T2 có đơn xin rút kháng cáo bản án sơ thẩm;
- Ngày 13 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo về việc rút đơn kháng cáo số 324/2025/TB-TA của bị cáo Võ Thành T2.
- - Ngày 27 tháng 02 năm 2025, bị cáo Dương Bá H2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt;
- Ngày 20 tháng 6 năm 2025, bị cáo Dương Bá H2 có đơn xin rút kháng cáo bản án sơ thẩm;
- Ngày 20 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo về việc rút đơn kháng cáo số 341/2025/TB-TA của bị cáo Dương Bá H2.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:
Vào lúc 17 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 11 năm 2022, tại căn nhà hoang thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Phòng C3 Công an tỉnh Đ phối hợp với Công an phường X, thành phố L bắt quả tang Hoàng Minh D và Trần Ngọc Hải K1 có hành vi tổ chức đánh bạc “Tài”- “Xỉu” ăn tiền trái phép cho các con bạc gồm: Huỳnh Văn Ú, Dương Bá H2, Võ Thành T2,Võ Ánh D1, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Thanh B, Nguyễn T4, Giêng Ngọc L2, Lê Phạm Tấn P, Lưu Văn T6, Nguyễn Thị Mỹ L, Trương Thanh N2, Lê Thị Thúy V tham gia đánh bạc, với tổng số tiền đánh bạc là 366.600.000 đồng;
Hành vi của bị cáo Hoàng Minh D đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2, Võ Ánh D1, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Thanh B, Nguyễn T4, Giêng Ngọc L2, Lê Phạm Tấn P, Lưu Văn T6, Nguyễn Thị Mỹ L, Lê Thị Thúy V đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về kháng cáo:
Cấp sơ thẩm đã xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
3.1. Tình tiết tăng nặng: Không có.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn T4 có nhân thân là năm 2014 bị xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, tại thời điểm xét xử về hành vi đánh bạc lần này bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo dùng số tiền đánh bạc ít, tuổi đã lớn (65 tuổi), có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02 ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, cần phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
[4] Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận được đơn kháng cáo, Quyết định kháng nghị như sau:
- + Đơn kháng cáo của các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2, Võ Ánh D1, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- + Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 100/QĐ-VKS-P7 ngày 13/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:
Kháng nghị phúc thẩm một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai về hình phạt đối các bị cáo Hoàng Minh D, Nguyễn T4;
Đề nghị xét xử vụ án theo hướng sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh về hình phạt theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Minh D, về tội “Tổ chức đánh bạc” và không cho bị cáo Nguyễn T4 được hưởng án treo, chuyển thành hình phạt tù có thời hạn.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo Hoàng Minh D cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Hoàng Minh D cung cấp đơn xin xét xử vắng mặt; bị cáo Nguyễn Thành cung C1 đơn kiến nghị về việc giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm; bị cáo Dương Bá H2 cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, giấy khám bệnh của con bị cáo và giấy khai sinh, giấy tặng huy chương kháng chiến hạng nhất của bà Lê Thị T9; bị cáo Võ Ánh D1 cung cấp giấy khai sinh, giấy khai tử của Cha bị cáo, đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
[5] Về hình phạt:
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, hành vi của bị cáo Võ Ánh D1 là người thực hành tích cực, mặc dù không làm nhà cái nhưng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là nhiều nhất, số tiền 102.600.000 đồng, thể hiện tính sát phạt, ăn thua cao hơn các bị cáo khác; là thể hiện sự coi thường pháp luật; Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án trên là đúng pháp luật. Bị cáo Võ Ánh D1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới, nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Võ Ánh D1. Do đó, bác kháng cáo của bị cáo Võ Ánh D1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quá trình tố tụng tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2 có đơn xin rút kháng cáo bản án sơ thẩm, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát rút kháng nghị đối với bị cáo Hoàng Minh D, bị cáo không có kháng cáo, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hoàng Minh D.
Đối với bị cáo Nguyễn T4, ngày 18/3/2014, đã bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 18/3/2015. Bị cáo đã từng được xem xét khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện tính coi thường pháp luật của các bị cáo. Bị cáo T4 phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (tổng số tiền đánh bạc là 366.600.000 đồng), bị cáo
chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo nhưng Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn T4 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, về tội “Đánh bạc” là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, chưa đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, không có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung, không đủ tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời vi phạm quy định khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; do vậy, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo, chuyển sang hình phạt tù có thời hạn.
[6] Về án phí:
Bị cáo Võ Ánh D1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ánh D1; giữ nguyên về hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ Điều 348; điểm b, đ khoản 1, Điều 355; điểm c, d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo Nguyễn T4; sửa bản án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo, chuyển sang hình phạt tù có thời hạn đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hoàng Minh D, giữ nguyên về hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2, Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, có hiệu lực pháp luật kể ngày 13 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo về việc rút đơn kháng cáo số 324/2025/TB-TA của bị cáo Võ Thành T2; ngày 20 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo về việc rút đơn kháng cáo số 341/2025/TB-TA của bị cáo Dương Bá H2.
- Tuyên bố: bị cáo Hoàng Minh D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tuyên bố: các bị cáo Dương Bá H2, Võ Thành T2, Võ Ánh D1, Nguyễn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
- * Căn cứ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự 2015;
Xử phạt: bị cáo Hoàng Minh D 01 (một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, buộc bị cáo Hoàng Minh D chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian giam giữ trước đó từ ngày 06/02/2023 đến 14/3/2023 và từ ngày 06/8/2023 đến 04/11/2023.
- * Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Dương Bá H2 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- * Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Võ Ánh D1 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- * Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Võ Thành T2 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- * Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành 0 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Võ Ánh D1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Lê Bửu Thiện |
Bản án số 296/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 296/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội tổ chức đánh bạc
