Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 296/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Khiêm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 thành phố Hải Phòng.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 309/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 129/TB-TA ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lại Thị Bé T, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện T (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Lim K, sinh năm 1974; địa chỉ: #817, W, Isan-myeon, Y-si, G-do, Hàn Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 8 năm 2024 và các lời khai, nguyên đơn là chị Lại Thị Bé T trình bày:

Chị T và anh Lim K kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 08/01/2016 tại Ủy ban nhân dân thành phố H. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, bất đồng về ngôn ngữ nên hai bên không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2023 đến nay anh Lim K về sống ở Hàn Quốc, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lim K.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Lại Bảo K1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2017. Hiện con chung đang sinh sống cùng với chị T. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con đến khi con thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Chị T và anh Lim K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục ủy thác tư pháp cho Tòa án Tối cao Hàn Quốc để tống đạt và lấy lời khai của anh Lim K nhưng không có kết quả.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Bé T và anh Lim K kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố H nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn từ năm 2023, anh Lim K về Hàn Quốc sinh sống, chị T ở lại Việt Nam, hai bên sống ly thân, không còn quan tâm trách nhiệm với nhau về tình cảm, kinh tế. Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, việc chị T có đơn xin ly hôn là có căn cứ cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Lại Thị Bé T và anh Lim K có một con chung là Lại Bảo K1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2017, hiện đang sinh sống cùng chị T và có đơn trình bày nguyện vọng được sống với mẹ. Do vậy cần tiếp tục giao con chung cho chị T là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên không xét.

Về tài sản chung: Chị Lại Thị Bé T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lại Thị Bé T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Lim K hiện đang cư trú tại nước ngoài nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Toà án nhân dân Tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lại Thị Bé T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lim K vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Bé T và anh Lim K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố H ngày 08/01/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9; Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, từ năm 2023 đến nay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân hai bên bất đồng quan điểm sống, bất đồng ngôn ngữ nên không chia sẻ được nhiều dẫn đến mất đi tiếng nói chung vợ chồng. Cũng từ năm 2023 đến nay hai bên đã sống ly thân, anh Lim K trở về sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Tòa án đã tiến hành các thủ tục ủy thác tư pháp, tống đạt và lấy lời khai của anh Lim K nhưng không có kết quả. Nay xét thấy vợ chồng đã sống ly thân, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị T có đơn xin ly hôn là có căn cứ. Do vậy, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghị của anh chị Lại Thị Bé T, giải quyết cho chị ly hôn anh Lim K.

[4] Về con chung: Chị Lại Thị Bé T và anh Lim K có một con chung là Lại Bảo K1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2017, hiện đang sinh sống cùng chị T và có đơn trình bày nguyện vọng được sống với mẹ. Anh Lim K hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc không có ý kiến gì về việc ly hôn, nuôi con chung. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con Lại Bảo K1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2017 cho chị Lại Thị Bé T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Nguyên đơn là chị Lại Thị Bé T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí sơ thẩm: Chị Lại Thị Bé T là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm c khoản 5 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lại Thị Bé T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Bé T được ly hôn anh Lim K.
  2. Về con chung: Giao con chung là Lại Bảo K1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2017 cho chị Lại Thị Bé T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Lại Thị Bé T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lại Thị Bé T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000865 ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng), được trừ vào tiền án phí ly hôn sơ thẩm mà chị Lại Thị Bé T phải chịu. Chị Lại Thị Bé T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án:
    • - Chị Lại Thị Bé T được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Anh Lim K được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - UBND thành phố Hải Phòng (Số 13/2016 ngày 08/01/2016)
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Thuỳ Linh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 296/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 296/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm Trang - Lim Keungoung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger