|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 296/2025/DS-ST Ngày 31-12-2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bích Hằng
- Bà Dương Thị Thu Hằng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang.
Trong ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa, số 103/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thanh T, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, tỉnh An Giang; có mặt.
- - Bị đơn: Bà Võ Thị P, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ F, ấp H, xã S, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/7/2025 và quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thành T1 trình bày:
Bà Phạm Thanh T là chủ thầu xây dựng. Vào ngày 09/7/2020, bà P có thuê dịch vụ xây dựng của bà để xây nhà cho bà P, số tiền công thoả thuận là 120.000.000 đồng. Sau khi việc xây nhà được hoàn tất, bà P chỉ thanh toán cho bà 90.000.000 đồng thành nhiều lần, còn lại là 30.000.000 đồng cho đến nay. Mặc dù bà đã nhiều
lần nhắc nhở nhưng bà P vẫn không trả tiền cho bà; không những vậy bà P1 không nghe điện thoại và cố ý lẩn tránh khi bà tìm đến nhà để đòi tiền.
Ngày 17/7/2025, bà đã gửi đơn yêu cầu hoà giải đến Tổ hoà giải ấp H đề nghị bà P phải trả lại số tiền bà P còn thiếu. Tại đây, bà P1 thừa nhận số tiền còn nợ bà nhưng không thống nhất được về cách thức trả nợ nên giải không thành.
Hiện tại, bà T đang bệnh nặng, thường xuyên phải định kỳ xạ trị theo chỉ định của bệnh viện nên việc thu hồi số tiền bà P còn thiếu rất quan trọng và cân thiết với cuộc sống của bà.
Bà yêu cầu buộc bà Võ Thị P phải trả cho tôi một lần số tiền nợ theo hợp đồng xây dựng nhà là 30.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 01/01/2021 đến 01/7/2025 là 13.494.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 43.494.000 đồng (bốn mươi ba triệu bốn trăm chín mươi tư nghìn đồng).
Tại phiên tòa:
- - Bà Phạm Thanh T xin rút yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu bà Võ Thị P trả số tiền gốc còn thiếu là 30.000.000 đồng và yêu cầu bà P hàng tháng phải trả ít nhất 5.000.000 đồng thì bà mới chấp nhận cho bà P trả dần.
- - Bà Võ Thị P thừa nhận còn thiếu tiền công xây nhà ở của bà Phạm Thanh T 30.000.000 đồng. Nay hoàn cảnh kinh tế của bà rất khó khăn nên không có điều kiện trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng mà xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nào trả hết nợ cho bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thanh T khởi kiện bà Võ Thị P trả số tiền bà P thuê xây dựng nhà ở nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”; bị đơn bà Võ Thị P có nơi cư trú tại: Tổ F, ấp H, xã S, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về tố tụng: quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa các công dân đều là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
- Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn bà Phạm Thanh Tuyền yêu cầu buộc bà Võ Thị P phải trả cho bà T một lần số tiền nợ theo hợp đồng dịch vụ là 30.000.000 đồng. Bà Võ Thị P thừa nhận còn nợ bà T số tiền 30.000.000 đồng nên đây là trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thanh T có cơ sở chấp nhận.
- Đối với đề nghị của bà P xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho bà T, Tòa án thấy rằng: đề nghị của bà P không được bà T đồng ý và các bên đương sự không có thỏa thuận nào khác về cách thức trả nợ nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận. Do đó, việc bà P trả nợ cho bà T sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Đối với yêu cầu tính lãi: tại phiên tòa bà Phạm Thanh T tự nguyện rút yêu cầu tính lãi đối với bà Võ Thị P. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.
- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn - bà Võ Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật là 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 280, Điều 351, Điều 352, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thanh T.
Buộc bà Võ Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thanh T số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu tính lãi do bà Phạm Thanh T tự nguyện rút yêu cầu.
- Về án phí: buộc bà Võ Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Phạm Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.087.350 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004757 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/12/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 296/2025/DS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 296/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Phạm Thanh Tuyền yêu cầu buộc bà Võ Thị Phấn phải trả cho bà Tuyền một lần số tiền nợ theo hợp đồng dịch vụ là 30.000.000 đồng. Bà Võ Thị Phấn thừa nhận còn nợ bà Tuyền số tiền 30.000.000 đồng nên đây là trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thanh Tuyền có cơ sở chấp nhận.
