TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 296/2024/HS-ST Ngày: 04 - 12 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Giới
2. Bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại hội trường xét xử – Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 281/2024/TLST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Nam T (tên gọi khác: không); sinh ngày: 22 tháng 3 năm 1976 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ E, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 13/11/2015 bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 09/8/2024 đến ngày 18/8/2024 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
2. Họ và tên: Đào Quốc V (tên gọi khác: không); sinh ngày: 16 tháng 9 năm 1976 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu A, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: bảo vệ công ty cổ phần C1; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên (đã bị khai trừ ra khỏi Đảng ngày 03/10/2024); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn V1 (đã chết) và bà Đoàn Thị P; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 09/8/2024 đến ngày 18/8/2024 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Những người làm chứng:
- Chị Trần Thị N, sinh năm: 1990; nơi đăng ký thường trú: tổ E, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, chỗ ở: số H tái Đ, B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Đỗ Huyền T3, sinh năm: 1983; nơi cư trú: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Hà Thị L, sinh năm: 1993; nơi đăng ký thường trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: số H tái Đ, B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Hà Thị T4, sinh năm: 1998; nơi đăng ký thường trú: bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; chỗ ở: số H tái Đ, B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Quốc V, Hoàng Nam T quen biết nhau, khoảng 18 giờ ngày 30/7/2024, sau khi ăn uống cùng một số bạn bè, T và V rủ nhau góp tiền đi hát Karaoke. T không mang theo tiền nên bảo vợ là Nguyễn Thị Ngọc C số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng cho V để góp tiền. Khoảng 21 giờ cùng ngày T và V đến phòng 201 quán K thuộc phường C, thành phố H. Khi vào phòng hát có 02 nhân viên là Hà Thị L và Hà Thị T4 phục vụ rót bia, hát cùng. Trong khi hát, T bảo V tìm mua ma tuý về sử dụng tại phòng hát, V đồng ý. Sau đó V gọi điện thoại qua ứng dụng T5 cho một người phụ nữ tên H (không rõ lai lịch địa chỉ) nhờ mua hộ ma tuý, loại Ketamine, đánh mịn ma tuý sẵn đưa cho V. Khoảng 30 phút sau, H đến chỗ V ngồi để trên mặt bàn 01 tờ tiền, loại mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) được gói lại và bảo V mua ma tuý hết 2.000.000đ (Hai triệu đồng), V và H đi ra ngoài thanh toán tiền. Sau đó V vào phòng hát cầm tờ tiền 1.000đ (Một nghìn đồng) chứa ma tuý ra sử dụng, nhưng do quán đóng cửa nên V và T không sử dụng ma tuý mà đi về, V đưa T cất giữ gói ma tuý.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, V và Tân lại cùng nhau đến phòng quán K để hát, L, T4 phục vụ, uống bia, hát cùng. T nói với V là có cầm theo số ma tuý Ketamine mua ngày 30/7/2024 nên rủ V cùng sử dụng, V đồng ý. T lấy trong túi quần ra tờ tiền 1.000đ (Một nghìn đồng) được gấp gọn, mở ra bên trong có chứa ma tuý Ketamine màu trắng dạng bột, T cầm ống hút nhựa màu trắng kê lên mũi, tự hít một đường ma tuý Ketamine, sử dụng xong T mời V sử dụng, V cầm ống hút T đưa kê lên mũi hít một đường ma tuý Ketamine trong tờ tiền 1.000đ (Một nghìn đồng) trên tay T. Sau đó, T để gói ma tuý ở trên bàn số 3 trong phòng hát. Khoảng 15 phút sau thì có Trần Thị N (là nhân viên của quán) vào hát, uống bia cùng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Công an tỉnh Q kiểm tra phòng hát 201 đã phát hiện thu giữ một số vật chứng liên quan gồm:
Thu giữ trong góc bàn số 3 từ cửa vào: 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) được gấp lại, bên trong có chứa chất bột màu trắng;
Thu giữ trên mặt bàn số 3: 01 bật lửa màu đỏ;
Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Hoàng Nam T đang mặc gồm 20 (Hai mươi) tờ tiền Ngân hàng N1 với nhiều mệnh giá khác nhau, trong đó có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) được gấp lại, phía bên trong tờ tiền có dấu hiệu bị đốt cháy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T và V.
Tại bản Kết luận giám định số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, khối lượng 0,441g (không phẩy bốn trăm bốn mươi mốt gam).
Tại bản Kết luận giám định số 1250/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: tìm thấy chất ma tuý trong mẫu nước tiểu ghi thu của Hoàng Nam T, Đào Quốc V gửi giám định. Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp (Amphetamine, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, Heroine...) và sản phẩm chuyển hoá trong mẫu nước tiểu ghi thu của Hà Thị L, Trần Thị N, Hà Thị T4 gửi giám định.
Quá trình điều tra, Hoàng Nam T, Đào Quốc V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nên trên.
Tại cơ quan điều tra Hà Thị L, Trần Thị N và Hà Thị T4 khai nhận: đều là nhân viên phục vụ tự do tại các quán Karaoke. Ngày 08/8/2024, L, T4, N được T, V thuê đến phòng hát phục vụ rót bia. Trong thời gian trong phòng hát L, T4, N không sử dụng ma tuý và không nhìn thấy ai sử dụng.
Vật chứng thu giữ: số ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 (Một) bật lửa ga màu đỏ; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0976.626.388; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0976.140.225. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để quản lý theo quy định của pháp luật. Số tiền 981.000đ (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) hiện đang được gửi giữ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 5220/CT- VKSHL ngày 04/11/2024 Viện kiểm sát thành phố H đã truy tố các bị cáo Hoàng Nam T, Đào Quốc V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Hoàng Nam T, Đào Quốc V phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Nam T từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù; đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đào Quốc V từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng, tài sản: đề nghị áp dụng: điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 0,39g (Không phảy ba chín gam) Ketamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (Một) bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (Một) sim điện thoại.
Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước:
- 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 12 Pro Max), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng;
- 01 (Một) tờ tiền Việt Nam loại 1.000đ (Một nghìn đồng) số hiệu CU 4211359 trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Nam T: 981.000đ (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Nam T: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 13 Plus), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng kèm theo 01 sim điện thoại.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Nam T, Đào Quốc V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời nói sau cùng: các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 30 phút đến 22 giờ 45 phút, ngày 08/8/2024 tại phòng hát 201, quán K, thuộc khu đô thị B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Nam T và Đào Quốc V có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Ketamine thì bị Công an tỉnh Q kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng. Hành vi của các bị cáo Hoàng Nam T, Đào Quốc V đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Cáo Trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị X là chủ cơ sở kinh doanh, thiếu trách nhiệm trong kiểm soát nên đã để cho người khác lợi dụng sử dụng trái phép chất ma tuý trong khu vực mình quản lý đã bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình phạt tiền. Đối với người phụ nữ tên H không xác định được lai lịch, địa chỉ, không có căn cứ xác minh để xử lý nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3] Về vai trò, nguyên nhân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Về vai trò: các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể của từng người, hành vi của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, trong đó bị cáo Hoàng Nam T là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo bị cáo Đào Quốc V cùng thực hiện tội phạm, T cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, lấy trong túi quần tờ tiền 1000đ (Một nghìn đồng) được gấp gọn bên trong có chứa ma tuý Ketamine, mở ra cầm ống hút nhựa màu trắng kê lên mũi tự hít một đường ma tuý Ketamine, sử dụng xong T mời V sử dụng nên bị cáo Tân giữ vai trò đầu trong vụ án. Bị cáo Đào Quốc V giữ vai trò sau vai trò của bị cáo T, sau khi được bị cáo T rủ rê lôi kéo, bị cáo V đã giúp sức cho bị cáo T trong việc liên hệ mua ma tuý để về cùng tổ chức sử dụng ma tuý với bị cáo T.
Về nguyên nhân, tính chất mức độ hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng ma tuý, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. So với bị cáo T thì tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo V hạn chế hơn.
[4] Về nhân thân: đối với bị cáo Hoàng Nam T: ngày 13/11/2015 bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án. Đối với bị cáo Đào Quốc V lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Hoàng Nam T có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T2 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Đào Quốc V hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo V phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội là công dân tốt luôn chấp hành tốt mọi chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, mức độ tham gia phạm tội có phần hạn chế hơn so với bị cáo T nên được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, khó có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng, tài sản:
Đối với: 0,39 gam Ketamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (Một) bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 tờ tiền Việt Nam loại 1.000₫ mã số hiệu CU 4211359 mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q là công cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 13 Plus), màu vàng, kèm theo 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo Hoàng Nam T, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Hoàng Nam T; đối với số tiền 981.000₫ (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Hoàng Nam T không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo T, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 12 Pro Max), màu vàng thu giữ của bị cáo Đào Quốc V, bị cáo sử dụng điện thoại để liên hệ trong quá trình phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; đối với 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo V không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát thành phố H về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với các bị cáo và về xử lý vật chứng, tài sản là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Hoàng Nam T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Nam T: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Nam T.
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự,
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đào Quốc V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Đào Quốc V: 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Quốc V.
- Về xử lý vật chứng, tài sản: áp dụng: điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 0,39g (Không phẩy ba chín gam) Ketamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (Một) bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (Một) sim điện thoại.
Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 12 Pro Max), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) tờ tiền Việt Nam loại 1.000đ (Một nghìn đồng) số hiệu CU 4211359 trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1249/KL- KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Nam T: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 13 Plus), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 (Một) sim điện thoại.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 33/BB- THA ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Trả lại cho bị cáo Hoàng Nam T: 981.000đ (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Phiếu nhập kho ngày 05/9/2024 tại Kho bạc Nhà nước Q; nhập TK: 9911; người giao: PHẠM HẢI D; đơn vị: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H; nhập tại kho: Kho bạc Nhà nước Q và biên bản giao nhận tài sản số: 144/2024/BBBG - CQCSĐTCAHL ngày 05/9/2024 giữa bên giao tài sản là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và bên nhận tài sản là Kho bạc Nhà nước Quảng Ninh).
- Về án phí: áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Hoàng Nam T, Đào Quốc V mỗi bị cáo phải chịu: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: áp dụng: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 296/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 296/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Hoàng Nam Tân: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Nam Tân. 2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, 2.1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đào Quốc Việt phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. 2.2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Đào Quốc Việt: 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/8/2024
