|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 2955/KDTM-ST Ngày: 08/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Văn Lợi.
2/ Ông Trần Đăng Vạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 387/2023/TLST-KDTM ngày 26 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4216/2024/QĐXXST-KDTM ngày 17/6/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4216/2024/QĐXXST-KDTM ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần S.
Địa chỉ: 4 N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền:
Bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 2000.
Hoặc bà Phan Thị Mỹ N, sinh năm: 1998.
Địa chỉ: 4 N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền số 01/2024/UQ ngày 07/5/2024).
2. Bị đơn: Công ty cổ phần X.
Địa chỉ trụ sở: 1-18-11-13 tầng 18 Tòa nhà Vincom Center D, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Truy L1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Căn hộ A Chung cư F đường P, tổ B, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07/7/2023 nguyên đơn Công ty cổ phần S xây dựng thế giới nhà và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Phan Thị Mỹ N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 13/8/2022, Công ty cổ phần S (gọi tắt là Công ty S) có ký kết Hợp đồng kinh tế số 593/2022/HĐKT/TGN với Công ty cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) về việc Công ty S bê tông thương phẩm phục vụ thi công công trình tại khu du lịch Láng Hàng xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đơn giá và khối lượng hàng được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Ngày 05/10/2022, Công ty S và Công ty X ký phụ lục hợp đồng 01 theo đó đôi bên thống nhất điều chỉnh tại “Điều 3 điều khoản thanh toán, khoản 3.5 “Hạn mức thanh toán” của hợp đồng trên”, các điều khoản khác giữ nguyên.
Thực hiện thỏa thuận của hai bên, Công ty S đã cung cấp bê tông thương phẩm cho Công ty X với tổng số tiền 1.538.120.000 đồng và đã xuất 13 hóa đơn giá trị gia tăng. Công ty X đã thanh toán cho Công ty S số tiền 1.358.210.000 đồng cho 11 hóa đơn giá trị gia tăng. Công ty S và Công ty X lập biên bản xác nhận công nợ phát sinh đến ngày 31/01/2023, Công ty X còn nợ số tiền nợ 179.910.000 đồng, trong đó số tiền còn nợ lại của hóa đơn giá trị gia tăng số 0004112 ngày 04/11/2022 là 109.255.000 đồng và số tiền 70.655.000 đồng của hóa đơn giá trị gia tăng số 0003420 ngày 30/11/2022.
Sau khi xác nhận công nợ, Công ty X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, mặc dù Công ty S đã liên hệ nhiều lần đề nghị Công ty X thanh toán nên ngày 07/7/2023, Công ty S đã nộp đơn khởi kiện Công ty X về việc yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền còn nợ 179.910.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất thỏa thuận 1.5%/tháng tạm tính với số tiền 17.332.868 đồng.
Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn xác định Công ty X đã thanh toán cho Công ty S nhà tổng số tiền 79.910.000 đồng, cụ thể: ngày 01/7/2023, Công ty X thanh toán số tiền 19.910.000 đồng, ngày 06/10/2023, Công ty X thanh toán tiếp số tiền 20.000.000 đồng, ngày 19/01/2024, Công ty X thanh toán 10.000.000 đồng và ngày 06/02/2024 thanh toán tiếp 10.000.000 đồng, ngày 22/6/2024, Công ty X thanh toán tiếp cho Công ty S Nhà số tiền 20.000.000 đồng, số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng. Các lần thanh toán Công ty X không ghi trả cho hóa đơn giá trị gia tăng nào nên Công ty S trừ vào số nợ của hóa đơn giá trị gia tăng xuất trước.
Xác định đến nay, Công ty X còn nợ lại số tiền 100.000.000 đồng (trong đó số tiền nợ còn lại của hóa đơn giá trị gia tăng số 0004112 ngày 04/11/2022 là 29.345.000 đồng và số tiền 70.655.000 đồng của hóa đơn giá trị gia tăng số 0003420 ngày 30/11/2022). Công ty S yêu cầu Công ty X trả số nợ còn thiếu là 100.000.000 đồng và theo khoản 3.2 Điều 3 thỏa thuận phải thanh toán 100% giá trị hóa đơn trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, trường hợp quá hạn thanh toán phải chịu lãi chậm thanh toán trên số nợ chậm trả với mức lãi suất theo thỏa thuận tại khoản 3.6 Điều 3 trong Hợp đồng là 1.5%/tháng tương đương với 0.05%/ngày, cụ thể:
Đối với Hóa đơn giá trị gia tăng số 00004112 ngày 04/11/2022 với số tiền 109.225.000 đồng ngày nhận hồ sơ thanh toán là ngày 08/11/2022.
Từ ngày 19/11/2022 đến ngày 30/6/2023 là 223 ngày trên số nợ chậm trả là 109.255.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 12.181.933đồng;
Ngày 01/7/2023 đến ngày 05/10/2023 là 97 ngày trên số nợ chậm trả là 89.345.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 4.333.233 đồng;
Ngày 06/10/2023 đến ngày 18/01/2024 là 105 ngày trên số nợ chậm trả là 69.345.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 3.640.613đồng;
Ngày 19/01/2024 đến ngày 05/02/2021 là 18 ngày trên số nợ chậm trả là 59.345.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 534.105 đồng;
Ngày 06/02/2024 đến ngày 21/6/2024 là 137 ngày trên số nợ chậm trả là 49.345.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 3.380.133 đồng;
Ngày 22/6/2024 đến ngày 08/7/2024 là 17 ngày trên số nợ chậm trả là 29.345.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 249.433 đồng;
Đối với hóa đơn giá trị gia tăng số 00003420 ngày 30/11/2022 với số tiền 70.655.000 đồng, ngày nhận hồ sơ thanh toán là ngày 17/12/2022, tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 08/7/2024 là 558 ngày trên số nợ chậm trả là 70.655.000 đồng theo mức lãi suất 0.05%/ngày là 19.712.745đồng;
Tổng tiền lãi chậm trả là: 44.032.193 đồng.
Bị đơn Công ty cổ phần X và người đại diện theo pháp luật của công ty Nguyễn Truy L1 vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý đơn khởi kiện đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền. Việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định. Tại phiên tòa, xét xử đúng thời gian, địa điểm, đúng thành phần, thủ tục khai mạc phiên tòa đúng quy định. Có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định pháp luật. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty cổ phần X trả số tiền còn nợ 100.000.000đồng và tiền lãi chậm trả với lãi suất 1.5%/tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng hai bên đã ký tạm tính đến Tòa xử sơ thẩm là 44.032.193đồng. Tổng cộng là 144.032.193đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm Công ty X phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty cổ phần S khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần X phải trả số tiền còn nợ và tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng; Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo thỏa thuận tại Điều 8 của hợp đồng kinh tế số 593/2022/HĐKT/TGN ngày 13/8/2022: “Trường hợp có phát sinh tranh chấp thì Tòa án có thẩm quyền tại trụ sở của bên bán giải quyết”. Bên bán có trụ sở tại 4 N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Công ty cổ phần X và người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần X là ông Nguyễn Truy L1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Bị đơn Công ty cổ phần X và người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần X là ông Nguyễn Truy L1 đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng Công ty cổ phần X và người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần X là ông Nguyễn Truy L1 vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, Công ty cổ phần X và người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần X là ông Nguyễn Truy L1 đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3.1] Về yêu cầu bị đơn trả tiền mua hàng còn thiếu là 100.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét:
Căn cứ hợp đồng kinh tế số 593/2022/HĐKT/TGN ngày 13/8/2022 giữa Công ty cổ phần S thế giới nhà với Công ty cổ phần X về việc Công ty S bê tông thương phẩm phục vụ thi công công trình tại khu du lịch Láng Hàng, tại B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, và biên bản xác nhận công nợ đến ngày 31/01/2023 với số tiền còn nợ là 179.910.000 đồng. Quá trình giải quyết nguyên đơn xác định số nợ 179.910.000 đồng trong đó số tiền còn nợ lại của hóa đơn giá trị gia tăng số 0004112 ngày 04/11/2022 là 109.255.000 đồng và số tiền 70.655.000 đồng của hóa đơn giá trị gia tăng số 0003420 ngày 30/11/2022.
Sau khi Công ty S Nhà nộp đơn khởi kiện và trong quá trình Tòa án giải quyết, Công ty cổ phần X đã thanh toán được tổng số tiền 79.910.000 đồng, cụ thể: ngày 01/7/2023, Công ty X trả số tiền 19.910.000 đồng, ngày 06/10/2023 trả tiếp số tiền 20.000.000 đồng, ngày 19/01/2024 trả 10.000.000 đồng, ngày 06/02/2024 trả tiếp 10.000.000 đồng và ngày 22/6/2024 Công ty X trả thêm số tiền 20.000.000 đồng, đến nay Công ty X còn nợ lại số tiền 100.000.000 đồng.
Xét, từ khi đôi bên xác nhận công nợ cho đến nay Công ty X chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán là vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 50 của Luật Thương mại năm 2005 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền mua hàng còn thiếu theo hợp đồng nêu trên là 100.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi chậm trả:
Căn cứ khoản 3.2, khoản 3.6 Điều 3 của hợp đồng kinh tế số 593/0022/HĐKT/TGN ngày 13/8/2022 thể hiện các bên có thỏa thuận thời gian thanh toán và lãi suất chậm trả, theo đó “bên B sẽ thanh toán bên A 100% giá trị hóa đơn trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo hồ sơ thanh toán”, “trường hợp có nợ quá hạn, bên B sẽ phải trả lãi quá nợ quá hạn là 1.5%/tháng cho các hóa đơn chưa thanh toán”.
Như vây, việc xác định thời gian tính lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho hóa đơn chưa thanh toán, hóa đơn giá trị gia tăng số 0004112 ngày 04/11/2022 là ngày 08/11/2022 và hóa đơn giá trị gia tăng số 0003420 ngày 30/11/2022 là ngày 28/12/2022 đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm với số tiền lãi mà Công ty S tính và cung cấp căn cứ trên các hóa đơn giá trị gia tăng là 44.032.193 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại có giá ngạch theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 259, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Khoản 1 Khoản 2 Điều 50, Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S xây dựng thế giới nhà.
Buộc Công ty cổ phần X phải trả cho Công ty cổ phần S xây dựng thế giới nhà số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm là 44.032.193 đồng. Tổng cộng là 144.032.193 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần X còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại thiếu theo số 593/2022/HĐKT/TGN ngày 13/8/2022 giữa Công ty cổ phần S thế giới nhà với Công ty cổ phần X nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật được hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Án phí sơ thẩm:
Công ty cổ phần X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại có giá ngạch là 7.201.610 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
H lại cho Công ty cổ phần S xây dựng thế giới nhà số tiền 4.931.072đồng tạm ứng án phí cho đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006010 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Nhung |
Bản án số 2955/KDTM-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 2955/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCHDMBHH
