|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 295/2024/HS-ST
Ngày: 03 – 12 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Nguyên
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 350/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 329/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 357-1/TB-TA ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với:
1. Huỳnh Thanh N, sinh năm: 1986 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: D, Tổ E, Ấp D, xã V, huyện B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12 ; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Con ông Huỳnh Thanh T và bà Ngô Thị Thu H; có vợ là Trần Mỹ H1 (đã ly hôn); Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị bắt từ ngày 12 tháng 8 năm 2024 (có mặt)
2. Đỗ Khắc Đ1, sinh năm: 1996 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi thường trú: Ấp N, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở: Nhà không số, Tổ B, Ấp C, xã V, huyện B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đỗ Văn N1 và bà Lê Thị T1; có vợ là Trần Lý K và 01 con (sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt từ ngày 12 tháng 8 năm 2024. (có mặt)
3. Trần Ngọc Đ2, sinh năm: 2000 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi thường trú: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Trung H2 và bà Hàng Thị D; Bị can chưa có vợ, con; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- Bị hại: Công ty Cổ phần T5; Trụ sở: A H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1990; Địa chỉ: D tổ E, ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
+ Bà Đỗ Thị K1, sinh năm: 1978; Địa chỉ: 5 đường số D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
+ Ông Lại Tấn H3, sinh năm: 1984; Địa chỉ: B tổ B, áp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thanh N và Nguyễn Văn T2 được Công ty B giao nhiệm vụ làm công tác bảo vệ cho Công ty Cổ phần T5 địa chỉ D, Tổ E, Ấp D, xã V, huyện B (trong đó N là tổ trưởng, còn T2 là tổ viên). Vào khoảng 20 giờ ngày 07/8/2023 N và T2 ngồi uống rượu bia với nhau tại công ty, thì có Đỗ Khắc Đ1 (là bạn của N làm nghề mua bán phế liệu) đến công ty ngồi uống rượu bia chung với N và T2, uống rượu bia được một lúc thì T2 vào trong phòng bảo vệ đi ngủ. Sau đó, N có nói riêng với Đ1 là anh quản lý kho (N không nói rõ tên Lại Tấn H3) nói với N có một số tấm Inox của công ty bị lỗi, coi sắp xếp lấy xe để chở những tấm Inox của Công ty Đ3 đi bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Đ1 biết N đã thông đồng với người quản lý kho để trộm cắp tấm inox trên nên đồng ý về nhà lấy xe lôi đến để chở I đi bán, sau đó Đ1 chạy xe lôi đến công ty thì T2 mở cửa cho Đ1 vào bên trong công ty, còn N thì chỉ cho Đ1 chạy xe lôi vào ngay cửa kho nơi để những tấm inox. N và Đ1 cùng phụ nhau khiêng được 07 tấm inox lên xe lôi, lúc này tay của N đau nên N ra chốt bảo vệ gọi T2 vào khiêng phụ những tấm inox lên xe lôi phụ Đ1, N thì ngồi chốt bảo vệ canh cổng. Khoảng 15 phút sau thì T2 ra cổng bảo vệ và nói với N: “anh vào khiêng đi, tay em đau khiêng không nổi”. N trả lời: “vậy thôi em canh cổng đi, anh vào khiêng”. N vào kho và phụ Đình K2 để trên xe lôi thêm 09 tấm inox còn lại, tổng cộng là 19 tấm inox. Sau đó, Đ1 điều khiển xe lôi ra đến cổng thì T2 trực tiếp mở cổng, do dốc cổng công ty cao nên xe làm rơi các tấm Inox xuống trước cổng. Thấy vậy, N vào gần kho lấy xe nâng ra điều khiển để nâng những tấm inox lên xe nhưng không nâng được, nên N đi ra ngoài kiếm xe lôi khác. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, N quay về nói không tìm được xe nên Đ1 chạy xe lôi về rồi đổi xe lôi khác (lớn hơn), lúc này N cùng Đ1 phụ nhau khiêng 19 tấm inox lên xe lôi xong. Đ1 điều khiển xe lôi chở theo những tấm inox rời Công ty, N thì điều khiển xe máy chạy theo sau, cả 02 đến chỗ bán phế liệu của chị ruột Đình tên là Đỗ Thị K1 tại kế địa chỉ: I, L, phường B, quận B (lúc này khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày). Tại đây, K1 mua 19 tấm inox này với giá tiền 14.400.000 đồng, N
và Đ1 đồng ý bán và Đ1 nhận số tiền vừa bán inox trên từ Kiều. Sau đó N và Đ1 điều khiển xe máy đến một quán ăn trên đường số A, khu dân cư V, tại đây Đ1 đưa hết 14.400.000 đồng cho N, sau đó N chia tiền cho Đ1 4.500.000 đồng, còn N giữ 9.900.000 đồng.
Sau khi, N, Đ1 rời đi, khoảng 05 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, Nguyễn Văn T2 điện thoại cho chị Hồ Thị L (làm quản lý bảo vệ tại công ty cổ phần T5) báo tin công ty bị lấy trộm tấm Inox, sau đó chị L đến công ty rồi nghe T2 nói lại toàn bộ sự việc và chị L báo lại cho Giám đốc Công ty T5 là anh Nguyễn Thiện T3 biết việc công ty bị mất trộm tài sản. Đến khoảng gần 06 giờ cùng ngày thì N quay về lại Công ty gặp T2 đang đứng trước chốt bảo vệ, N đưa cho T2 500.000 đồng và nói đây là tiền bán những tấm inox đêm hôm qua, T2 cầm số tiền này gặp chị L báo cáo việc N đưa tiền cho T2 và đưa lại cho chị L số tiền 500.000 đồng để chị L giao nộp lại cho công ty. Sau đó, N lấy xe chạy ra gặp Lại Tấn H3 (thủ kho quản lý tài sản của Công ty Cổ phần T5) đang đậu xe máy gần bãi đất trống cách Công ty khoảng 100 mét nên N lấy số tiền đưa cho H3 3.000.0000 đồng (cả hai không nói chuyện gì với nhau) thì N còn 6.900.000 đồng. Sau đó, N đến gặp Đ1, N mua đồ ăn và tiêu xài cá nhân hết 1.400.000 đồng và về phòng trọ của Đ1 để tiếp tục uống rượu bia. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, thì N quay về Công ty thì lúc này có anh Nguyễn Thiện T3 (giám đốc Công ty) và chị Hồ Thị L hỏi N về sự việc công ty bị mất tài sản là những tấm inox. Khoảng 20 phút sau, thì N thừa nhận hành vi “trộm cắp tài sản” của mình, sau đó anh T3 đến Công an xã V, huyện B trình báo sự việc.
Tại Công an xã V, huyện B Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Ngoài ra các bị cáo còn khai thêm, cũng với thủ đoạn nêu trên, N, Đ1 cùng với Trần Ngọc Đ2 (làm bảo vệ công ty T5 từ ngày 06/6/2023, sau đó đã nghỉ việc thì Nguyễn Văn T2 vào làm bảo vệ) đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tấm inox của Công ty. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng đầu tháng 7/2023 (không rõ ngày cụ thể), Lại Tấn H3 (thủ kho) dùng điện thoại di động gọi liên lạc qua Z cho N nói: “có những tấm inox anh để sẵn phía trước gần kho, em coi sắp xếp bán kiếm tiền tiêu xài”. N đồng ý và nói lại với Đ2 cùng thực hiện hành vi trộm cắp inox, sau đó N gọi điện thoại cho Đ1 và kêu Đ1 chạy xe lôi đến Công ty, Đang thì mở cổng cho Đ1 chạy xe lôi vào trong kho, N cùng với Đình khiêng 07 tấm inox lên xe lôi và đem bán cho Đỗ Thị K1 với giá tiền là 8.000.0000 đồng. Sau đó, N chia cho Đ1 2.200.000 đồng, chia cho Đang 1.750.000 đồng tại chốt bảo vệ và N cuộn tròn số tiền 2.300.000 đồng bỏ vào trong góc kẹt ngay cửa kho. Đến sáng, Lại Tấn H3 vào công ty thì N nói với H3 là “tiền bán inox em để ngay góc cửa kho”. còn lại số tiền 1.750.000 đồng N cất giữ.
Lần 2 (Cách lần thứ nhất khoảng 10 ngày, không rõ ngày cụ thể): Cùng với phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như lần đầu thì N có nói Đang vào phụ kéo 07 tấm inox trong kho ra ngoài để dễ khiêng lên xe lôi và Đ2 làm theo. Sau đó, N và Đ1 cùng nhau chở những tấm inox đem bán cho K1 với giá gần 8.000.000 đồng. N chia cho Đ1 2.200.000 đồng; chia cho Đang 1.900.000
đồng, N cuộn số tiền 2.300.000 đồng bỏ vào trong góc kẹt ngay cửa kho chia cho H3, còn lại số tiền 1.600.000 đồng cho N cất giữ.
Lần 03: (Cách lần thứ hai khoảng 01 tuần, không rõ ngày cụ thể): Với phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như lần đầu thì tại lần này Đang mở cổng công ty và canh chốt bảo vệ để N2 và Đình khiêng 06 tấm Inox lên xe lôi đem đi bán cho K1 với giá tiền 7.300.000 đồng, N chia tiền cho Đ1 2.200.000 đồng, chia cho Đang 1.600.000 đồng và N cuộn tròn số tiền 2.300.000 đồng bỏ vào trong góc kẹt ngay cửa kho chia cho H3, để H3 tự đến lấy, còn lại số tiền 1.200.000 đồng cho N cất giữ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Theo kết luận số 2528/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B đối với 19 tấm inox, loại inox số 1 HL: 2mm x 1220mm x 3000mm, có giá trị 78.141.718 đồng và Biên bản định giá tài sản số 182/BB-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B đối với 20 tấm inox, loại inox số 1 HL: 2mm x 1220mm x 3000mm, có giá trị 82.454.440 đồng. Tổng số tài sản bị mất trộm là 160.596.158 đồng.
Vật chứng trong vụ án:
+ Thu giữ của Huỳnh Thanh N:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO (Qua kiểm tra điện thoại tin nhắn, cuộc gọi đến, cuộc gọi đi và tài khoản Z không thể hiện đến tài khoản “H3” “kho” trong vụ việc trộm cắp tài sản.
- - 01 (một) bộ quần áo gồm áo ngắn tay màu tím, quần thun ngắn màu xám mà N đã mặc khi cùng đồng bọn trộm cắp tài sản.
- - Số tiền 5.500.000 đồng mà bị can N đã bán những tấm inox trộm cắp của công ty T5.
+ Thu giữ của Đỗ Khắc Đ1:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh số Imel: 867251051601921.
- - 01 (một) bộ quần áo sơ mi tay dài màu đen, quần thun ngắn màu đen mà Đ1 đã mặc khi cùng đồng bọn trộm cắp tài sản.
- - Số tiền 4.500.000 đồng có được từ việc bán những tấm inox trộm cắp của công ty T5.
Tạm giữ của Trần Ngọc Đ2:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 (bị hư hỏng).
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme
Tạm giữ của anh Lại Tấn H3:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (Qua kiểm tra điện thoại tin nhắn, cuộc gọi đến, cuộc gọi đi và tài khoản Zalo không thể hiện liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản).
Tạm giữ của anh Nguyễn Văn T2:
- - Số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính, anh T2 tự nguyện giao nộp cho Hồ Thị L, sau đó chị L giao nộp cho lực lượng Công an.
Thu giữ của Đỗ Thị K1:
- - 02 (hai) xe lôi tự chế, không biển số, không số khung và không số máy: chiếc xe này do Đ1, N dùng để chở 19 tấm inox.
Về dân sự: Ngày 12/3/2024, đại diện của công ty Cổ phần T5 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại (từ chị Huỳnh Thị Lệ T4 là chị gái của bị can Huỳnh Thanh N và bà Trần Lý K là vợ bị can Đỗ Khắc Đ1) trong vụ án là 104.000.000 đồng và anh S đã làm đơn bãi nại, rút yêu cầu xử lý hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt đối với các đối tượng trong vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 221/CT-VKSBC ngày 26/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 về tội: “Trộm cắp tài sản”, đề nghị:
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh N từ 04 năm đến 05 năm tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Đỗ Khắc Đ1 từ 04 năm đến 05 năm tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Trần Ngọc Đ2 từ 03 năm đến 04 năm tù.
Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:
[3] Vào ngày 08/8/2023, Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1 và Nguyễn Văn T2 lén lút chiếm đoạt 19 tấm inox của công ty cổ phần T5 tại địa chỉ D, Tổ E, Ấp D, xã V, huyện B. Sau đó, Huỳnh Thanh N và Đỗ Khắc Đ1 chở 19 tấm Inox này đem đi bán cho chị Đỗ Thị K1 với giá 24.000 đồng/kg, cân được khoảng 600kg, nên chị K1 đưa cho N 14.400.000 đồng. Sau khi Huỳnh Thanh N và Đỗ Khắc Đ1 chở 19 tấm I đi bán thì Nguyễn Văn T2 gọi điện báo cho chị Hồ Thị L (nhân viên của Công ty T5) và ông Nguyễn Thiện T3 (là giám đốc xưởng thuộc Công ty T5) báo về hành vi chiếm đoạt tài sản của N và Đ1.
[4] Sau khi làm việc tại cơ quan điều tra, Huỳnh Thanh N và Đỗ Khắc Đ1 thừa nhận ngoài lần chiếm đoạt các tấm Inox tại Công ty T5 vào ngày 08/8/2023 thì N và Đ1 còn trực tiếp cùng Trần Ngọc Đ2 chiếm đoạt 03 lần, với tổng số tấm Inox trộm trong 03 lần này là 20 tấm Inox. Lời khai của Trần Ngọc Đ2 phù hợp với lời khai của Huỳnh Thanh N và Đỗ Khắc Đ1, đồng thời phù hợp với lời khai của người mua phế liệu là bà Đỗ Thị K1 trình bày. Do đó, có đủ cơ sở xác định trước ngày 08/8/2023, Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 đã 03 lần chiếm đoạt tài sản của Công ty T5. Tuy nhiên về số lượng các tấm Inox mà Công ty T5 bị chiếm đoạt thì phía bị hại Công ty T5 xác định là chỉ bị mất là 31 tấm Inox, do đó Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 03 lần chiếm đoạt trước ngày 08/8/2023 với số lượng là 12 tấm Inox, chứ không phải là 20 tấm Inox như cáo trạng đã truy tố. Theo đó, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà Huỳnh Thanh N và Đỗ Khắc Đ1 phải chịu trách nhiệm hình sự là 19 tấm Inox chiếm đoạt vào ngày 08/8/2023 và 12 tấm Inox chiếm đoạt trong 03 lần trước ngày 08/8/2023 (là 78.141.718 đồng + (82.454.440 đồng/20) x 12 = 127.614.382 đồng). Tổng giá trị tài sản mà Trần Ngọc Đ2 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi 03 lần chiếm đoạt trước ngày 08/8/2023 là 12 tấm Inox có giá trị là (82.454.440 đồng/20) x 12 = 49.472.664 đồng.
[5] Trong vụ án này, các bị cáo có phân công vai trò người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt, người cảnh giới đối với tất cả các lần thực hiện tội phạm, vì vậy ngoài tình tiết định khung tăng nặng theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt, các bị cáo còn phạm tội thuộc trường hợp “có tổ chức” theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Trần Ngọc Đ2 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố theo điểm c Khoản 2 Điều 173 với trị giá tài sản bị chiếm đoạt được xác định là 82.454.440 đồng, nhưng như đã nhận định tại [4] thì tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà Trần Ngọc Đ2 phải chịu trách nhiệm hình sự là dưới 50.000.000 đồng nên chỉ có cơ sở xác định Trần Ngọc Đ2 phạm tội thuộc trường hợp “có tổ chức” theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó, khung hình phạt đối với bị cáo Trần Ngọc Đ2 là không thay đổi. Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án, Huỳnh Thanh N có vai trò rủ rê, thực hiện, đưa tài sản đi tiêu thụ, phân chia số tiền thu được, Đỗ Khắc Đ1 có vai trò thực hiện, đưa tài sản đi tiêu thụ, còn Trần Ngọc Đ2 có vai trò giúp sức.
[6] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đối với Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với Trần Ngọc Đ2, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Huỳnh Thanh N khai là do có sự báo trước của quản lý kho là Lại Tấn H3 về việc xóa các tấm inox này ra khỏi danh sách hàng hóa của công ty, và những tấm inox này được Lại Tấn H3 bỏ trước cửa kho (tức là Huỳnh Thanh N không chiếm đoạt các tấm Inox một cách ngẫu nhiên hay tùy tiện, mà là những tấm I đã được H3 chỉ định bằng cách để trước cửa kho). Tuy nhiên, ngoài lời khai của Huỳnh Thanh N thì không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh Lại Tấn H3 có liên quan đến hành vi chiếm đoạt các tấm Inox. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ về vấn đề tội danh và những cá nhân có liên quan chưa được xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Tuy nhiên, kết quả điều tra bổ sung không thay đổi, trong giới hạn xét xử Tòa án xét xử đối với những bị cáo và hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Tuy nhiên cũng cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét kháng nghị bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm để tiếp tục làm rõ về tội danh và trên cơ sở xem xét lại tội danh thì xem xét vai trò đồng phạm giúp sức của một số đối tượng chưa được xét xử trong vụ án này.
[8] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[9] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo N, Đ1 và Đ2 phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[10] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo N, Đ1 và Đang thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1 tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[11] Về xử lý vật chứng:
- + Thu giữ của Huỳnh Thanh N:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO: Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo Huỳnh Thanh N.
- - 01 (một) bộ quần áo gồm áo ngắn tay màu tím, quần thun ngắn màu xám mà N đã mặc khi trộm cắp tài sản: Không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 5.500.000 đồng: Bị cáo N đã bồi thường dân sự cho Công ty T5, trả lại số tiền này cho bị cáo Huỳnh Thanh N.
- + Thu giữ của Đỗ Khắc Đ1:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh số Imel: 867251051601921: Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo Đỗ Khắc Đ1.
- - 01 (một) bộ quần áo sơ mi tay dài màu đen, quần thun ngắn màu đen mà Đ1 đã mặc khi cùng đồng bọn trộm cắp tài sản: Không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 4.500.000 đồng: Bị cáo Đ1 đã bồi thường dân sự cho Công ty T5, trả lại số tiền này cho bị cáo Đỗ Khắc Đ1.
- + Tạm giữ của Trần Ngọc Đ2:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8: Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Trần Ngọc Đ2.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme: Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Trần Ngọc Đ2.
- + Tạm giữ của anh Lại Tấn H3:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng: Không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho anh Lại Tấn H3.
- + Tạm giữ của anh Nguyễn Văn T2:
- - Số tiền 500.000 (năm trăm ngàn đồng) là số tiền Nguyễn Văn T2 nhận từ Huỳnh Thanh N: Các bị cáo đã bồi thường dân sự cho Công ty T5, trả lại bị cáo Huỳnh Thanh N.
- + Thu giữ của bà Đỗ Thị K1: 02 (hai) xe lôi tự chế, không biển số, không số khung và không số máy: Xe không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, được sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[12] Về dân sự: Bị hại Công ty T5 đã được bồi thường, không yêu cầu giải quyết về dân sự.
[13] Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
- - Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173, điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh N: 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173, điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc Đ1: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Đ2: 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét kháng nghị bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm để tiếp tục làm rõ về tội danh và trên cơ sở xem xét lại tội danh thì xem xét vai trò đồng phạm giúp sức của một số đối tượng chưa được xét xử trọng vụ án này.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
- + Trả lại bị cáo Huỳnh Thanh N 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO.
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo gồm áo ngắn tay màu tím, quần thun ngắn màu xám.
- + Trả lại cho bị cáo Đỗ Khắc Đ1 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh.
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo sơ mi tay dài màu đen, quần thun ngắn màu đen.
- + Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc Đ2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8.
- + Trả lại bị cáo Trần Ngọc Đ2 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme.
- + Trả lại Lại Tấn H3 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng: Không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 (hai) xe lôi tự chế, không biển số, không số khung và không số máy.
- (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
- + Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thanh N số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
- + Trả lại cho bị cáo Đỗ Khắc Đ1 số tiền 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
- (Đã được nộp vào Kho bạc nhà nước B1 theo giấy nộp tiền ngày 09/7/2024 của Ngân hàng N3 Chi nhánh Nam Thành phố H).
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Các bị cáo Huỳnh Thanh N, Đỗ Khắc Đ1, Trần Ngọc Đ2 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 295/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 295/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thanh Nhã
