TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 295/2023/DS-ST Ngày: 19-12-2023 V/v “Tranh chấp Đòi tài sản – Tiền” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn, ông Võ Thanh Tân.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thu Thảo -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp Đòi tài sản, tiền. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 553/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số: 537/2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Lại Thị Xuân H, sinh năm 1982. Địa chỉ: số A đường M, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Sơn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: số A khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/10/2023, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bà Lại Thị Xuân H trình bày:
Trước đây, bà Lại Thị Xuân H và ông Nguyễn Sơn T là vợ chồng, tuy nhiên vợ chồng đã ly hôn. Sau khi ly hôn, ông T tự ý lấy 01 điện thoại, 01 dây chuyền, 01 đôi bông tai của bà H, tổng tài sản được quy đổi thành tiền bà H tạm tính 17.240.000đ. Nhiều lần bà H yêu cầu ông T trả lại các tài sản nêu trên nhưng ông T không đồng ý, ông T cho rằng là tài sản của ông T. Do đó, phát sinh mâu thuẫn tranh chấp và tại các phiên tòa tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang ông T có thừa nhận đã nhận các tài sản nêu trên của bà H, ông T hứa sẽ trả lại cho H nhưng không thực hiện. Nay, bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả lại các tài sản cho bà H được xác định giá trị bằng tiền là 17.240.000đ. Về các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà H xác định không có chứng cứ chứng minh cũng như không có người làm chứng. Bà H yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ trả số tiền 17.240.000đ dựa vào lời hứa của ông T sẽ hoàn trả. Ngoài ra không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà H kêu gọi sự trung thực và thực hiện lời hứa của ông T.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án ông T vắng mặt không có lý do, không có yêu cầu xét xử vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Ông T vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của đương sự tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên tòa thể hiện bà H cho rằng ông T có lấy của bà 01 điện thoại, 01 dây chuyền, 01 đôi bông tai với tổng giá trị 17.240.000đ. Xét bà H yêu cầu ông T trả tài sản là số tiền 17.240.000đ nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Trong quá trình giải quyết ông T vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến của ông T. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà H không có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H buộc ông T trả số tiền 17.240.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho các đương sự. Tại phiên tòa, bà H có mặt, ông T vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị Xuân H đối với ông T, ông T có nơi cư trú phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T trả lại cho bà các tài sản bao gồm: 01 điện thoại, 01 dây chuyền, 01 đôi bông tai với số tiền 17.240.000đ. Xét yêu cầu của bà H phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 105, 115, 166 Bộ luật dân sự 2015 nên quan hệ pháp luật được xét là tranh chấp đòi tài sản-tiền để xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
[4] Về nội dung vụ án: Bà H và ông T là vợ chồng nhưng đã ly hôn. Theo bà H trình bày sau khi ly hôn ông T tự ý lấy 01 điện thoại, 01 dây chuyền và 01 đôi bông tai được quy đổi thành tiền 17.240.000đ. Việc ông T tự ý lấy tài sản của bà H nhưng chưa được sự đồng ý của bà H. Do đó, yêu cầu ông T trả số tiền 17.240.000đ. Quá trình giải quyết ông T vắng mặt không có ý kiến trình bày. Về chứng cứ chứng minh bà H không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.
[5] Hội đồng xét xử nhận định về vụ án: Bà H yêu cầu ông T trả lại cho bà số tiền 17.240.000đ, nguồn gốc số tiền được bà H tự quy đổi từ 01 điện thoại di động, 01 đôi bông tai, 01 dây chuyền. Trong quá trình giải quyết Tòa án thông báo yêu cầu bà H cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện để Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu của bà theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, bà H không cung cấp và tại phiên tòa, bản thân bà H xác định việc khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh nhưng bà không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ có liên quan để buộc ông T có nghĩa vụ hoàn trả số tiền theo yêu cầu khởi kiện. Bà H kêu gọi sự trung thực và yêu cầu ông T phải thực hiện lời hứa sẽ hoàn trả số tiền 17.240.000đ. Trong quá trình giải quyết ông T vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà H buộc ông T trả lại tài sản cho bà số tiền 17.240.000đ theo quy định tại điều 115, 116 Bộ luật dân sự 2015.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà H không được chấp nhận nên chịu số tiền 862.000đ. Trừ vào 431.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0002509, ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H nộp thêm số tiền 431.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 233, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 105, 115, 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị Xuân H đối với ông Nguyễn Sơn T về việc yêu cầu ông T trả lại số tiền 17.240.000đ (mười bảy triệu, hai trăm, bốn mươi ngàn đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu 862.000đ. Trừ vào 431.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0002509, ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H nộp thêm số tiền 431.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bà Lại Thị Xuân H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Sơn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của ông T.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nơi nhận:
| Trần Văn Phương |
Bản án số 295/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản – tiền
- Số bản án: 295/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tài sản – Tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia TS
