Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 295/2024/DS-ST

Ngày: 18-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
  2. Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/QĐHPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Nguyễn Minh T, sinh năm 2001; địa chỉ liên lạc: Số F đường H, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Nhật H, sinh năm 1996; địa chỉ: Số B đường X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 11/12/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 20796 quyển số 12/2023/TP/CC/SCC/HĐGD). (Có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Bảo K, sinh năm 1985, địa chỉ: Số B P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11/12/2023, bản tự khai và các lần làm việc tại tòa, đại diện nguyên đơn trình bày:

Thông qua quen biết và tin tưởng bà Nguyễn Ngọc B Khanh nên ngày 31/10/2022 bà Phan Nguyễn Minh T đã cho bà K vay số tiền là: 657.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi bảy triệu đồng) việc vay mượn trên được lập thành văn bản "Hợp đồng vay tiền" ký ngày 31/10/2022.

Tại Hợp đồng vay tiền ngày 31 tháng 10 năm 2022 ký giữa bà Phan Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Ngọc Bảo K có nội dung thỏa thuận cụ thể như sau:

  • Bà T cho bà K vay và bà K đồng ý vay số tiền là: 657.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là: 20%/năm (1.66%/tháng)
  • Kể từ thời điểm ký hợp đồng các bên xác nhận đã giao và nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng.
  • Hợp đồng vay không có kỳ hạn.

Thực hiện theo hợp đồng bà T đã giao đủ số tiền vay cho bà K tại thời điểm ký hợp đồng theo đúng thỏa thuận.

Đến năm 2023 không thấy bà K trả tiền gốc và lãi nên bà T đã liên hệ bà K nhiều lần để yêu cầu bà K trả tiền gốc và lãi đã vay nhưng bà K không trả, sau đó bà T tiếp tục liên hệ bà K hẹn gặp làm việc để thương lượng về việc thanh toán nhưng không thành công do bà K cố tình trốn tránh. Ngày 12/06/2023 bà T gửi thông báo đòi nợ cho bà K về số B P, Phường A, Quận G, TP . đề nghị thanh toán nợ gốc và lãi nhưng vẫn không nhận được phản hồi từ phía bà K.

Việc bà Nguyễn Ngọc Bảo K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã gây rất nhiều thiệt hại cho bà Phan Nguyễn Minh T cũng như xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bà T.

Căn cứ Khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý".

Do bà K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà K phải trả số tiền nợ tính đến ngày 18/6/2024 tổng cộng là là 936.955.000 đồng, bao gồm:

  1. Nợ gốc là: 657.000.000 đồng
  2. Trả lãi theo thỏa thuận từ ngày 31/10/2022 đến ngày 17/06/2023 là 07 tháng 17 ngày là: 657.000.000 đồng x 07 tháng 17 ngày x 20%/năm = 82.855.000 đồng.
  3. Lãi chậm trả trên nợ gốc bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả tạm tính từ ngày 18/06/2023 đến ngày 18/6/2024 là 01 năm: 657.000.000 đồng x 30%/năm x 01 năm = 197.100.000 đồng.

Yêu cầu một mình bà K phải chịu trách nhiệm trả số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Bảo K mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà K không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và cũng không ghi nhận được ý kiến của bà K đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên Tòa đại diện nguyên vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay các nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo kết quả trả lời xác minh ngày 29/01/2024 của Ban chỉ huy Công an P, quận G, Thành phố hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Ngọc Bảo K có hộ khẩu thường trú tại số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không cư ngụ tại địa phương, cư trú tại số A đường số E, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả trả lời xác minh ngày 11/3/2024 của Ban C1, quận G, Thành phố hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Ngọc Bảo K, sinh năm 1985 không cư trú và đăng ký tạm trú tại số A đường số E, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy địa chỉ số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, bị đơn thay đổi nơi cư trú không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của các đương sự: Tòa án đã triệu tập tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ cho bà K nhưng bà K vẫn vắng mặt đến lần thứ hai. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà K.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà K phải trả cho bà T số tiền 936.955.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, bà K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà K đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.1] Về nợ gốc: Xét Hợp đồng cho vay tiền ngày 31/10/2022 do nguyên đơn cung cấp có nội dung bà T cho bà K vay số tiền 657.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 20%/năm. Hội đồng xét xử xác định giữa các đương sự có xác lập giao dịch vay tài sản là Hợp đồng vay không kì hạn, có lãi quy định tại Điều 463, Điều 469, Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngày 12/6/2023 bà T có làm thông báo đòi nợ, yêu cầu bà K đến ngày 17/6/2023 phải trả nợ. Tuy nhiên, đến nay bà K chưa thanh toán. Do đó bà T khởi kiện yêu cầu bà K thanh toán số tiến nợ gốc là 657.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự.

[2.2] Về tiền lãi:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi trong hạn với mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 20%/năm từ ngày 31/10/2022 tính đến ngày 17/6/2023 là 82.855.000 đồng và lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn từ ngày 18/6/2023 đến ngày xét xử (18/6/2024) là 197.100.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc là 657.000.000 đồng và tiền lãi (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) tính đến ngày 18/6/2023 là 279.955.000 đồng. Tổng cộng là 936.955.000 đồng.

Về thời hạn thanh toán: Việc bà K vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T nên Hội đồng xét xử nghĩ cần buộc bà K phải trả số tiền trên cho T làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[2.3]. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày 19/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà K còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn của mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân.

[3] Về án phí:

Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40.108.650 đồng.

Hoàn tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn là 18.528.000 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0013333 ngày 09/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Buộc bà Nguyễn Ngọc B K phải trả cho bà Phan Nguyễn Minh T số tiền nợ gốc là 657.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 279.955.000 đồng. Tổng cộng là 936.955.000 đồng (Chín trăm ba sáu triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn đồng). Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 19/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà K còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn của mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 40.108.650 đồng (Bốn mươi triệu một trăm linh tám ngàn sáu trăm năm mươi đồng) do bà Nguyễn Ngọc Bảo K phải chịu.
  4. Hoàn tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn là 18.528.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm hai mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0013333 ngày 09/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp;
  • - Lưu hồ sơ việc dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 295/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 295/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger