|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 295/2025/LĐ-ST
Ngày: 17 - 6 - 2025
V/v: Tranh chấp về hợp đồng lao động
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Trang – Hiệu trưởng trường Tiểu học Bình Hòa;
- Ông Nguyễn Lê Vân – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP . Thuận An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 03/2025/TLST-LĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2025/QĐXXST-LĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; thường trú: Thôn E, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên lạc: 336/12/6 P, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH J., L; địa chỉ: KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995; thường trú: Tổ D, ấp N, xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Do có nhu cầu cập nhập lại thông tin bảo hiểm nên ông Nguyễn Văn T có liên lạc với Bảo hiểm xã hội tỉnh B để làm thủ tục theo đúng quy định. Sau đó, ông T được Bảo hiểm xã hội B thông báo thời điểm từ tháng 07 năm 2011 đến tháng 06 năm 2013 ông T có ký hợp đồng lao động và làm tại Công ty TNHH J., L và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty này. Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời điểm nêu trên ông T đang làm việc cho công ty khác trong cùng một khoảng thời gian và được tham gia đóng bảo hiểm tại hai công ty nên ông T không thể rút bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được. Nguyên nhân là do vào thời điểm trên, ông Nguyễn Thanh H không có đủ hồ sơ xin việc làm nên ông Nguyễn Văn T có cho ông Nguyễn Thanh H mượn giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn T để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH J., L và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của ông T từ tháng 07 năm 2011 đến tháng 06 năm 2013, thực tế ông Nguyễn Thanh H là người ký kết hợp đồng và trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH J., Ltd.
Nay ông Nguyễn Văn T yêu cầu Toà án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Nguyễn Văn T (do ông Nguyễn Thanh H là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH J., L trong khoản thời gian làm từ tháng 07 năm 2011 đến tháng 06 năm 2013 là vô hiệu toàn bộ, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Quá trình tố tụng bị đơn Công ty TNHH J., L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H trình bày:
Vào khoảng tháng 07 năm 2011 ông Nguyễn Thanh H có mượn ông Nguyễn Văn T giấy chứng minh nhân dân của tên Nguyễn Văn T, để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH J1 với tên của bà Nguyễn Văn T và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của Nguyễn Văn T từ tháng 07 năm 2011 đến tháng 06 năm 2013 do ông Nguyễn Thanh H chưa đủ tuổi lao động. Nay ông Nguyễn Văn T đi làm thủ tục bảo hiểm xã hội nên có liên hệ với Bảo hiểm xã hội thì được thông báo bị trùng thông tin tham gia bảo hiểm xã hội. Do cùng một khoảng thời gian ông H đóng bảo hiểm tại hai công ty, nên đến nay ông Nguyễn Văn T không thể rút bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được. Khi đó ông Nguyễn Thanh H mới biết việc mượn hồ sơ người khác đi giao kết hợp đồng lao động là sai, trái với quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T. Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T thì ông Nguyễn Thanh H thống nhất, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:
Ông Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/5/1992, số căn cước công dân: [...], số chứng minh nhân dân [...] có quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể như sau:
- Tại Công ty TNHH A từ tháng 07/2011 đến tháng 10/2011 theo sổ bảo hiểm mã số 7411195074, đã thực hiện chốt sổ ngày 18/11/2011.
- Tại Công ty TNHH Q (Việt Nam), mã số Bảo hiểm xã hội 7411306360 từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 03 năm 2023, đã thực hiện chốt sổ ngày 07/4/2023;
- Tại Công ty TNHH J., L từ tháng 07/2011 đến tháng 06/2013 theo sổ bảo hiểm mã số 7411054922, đã thực hiện chốt sổ ngày 24/7/2013;
Bảo hiểm xã hội T1 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn T khởi kiện Công ty TNHH J., L có trụ sở tại KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, về việc tranh chấp hợp đồng lao động. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn Công ty TNHH J., L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyền bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người lao động có tên Nguyễn Văn T và người sử dụng lao động Công ty TNHH J., L là vô hiệu do người khác mượn giấy tờ của nguyên đơn để ký kết hợp đồng lao động. Các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH J., L và ông Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, tất cả các đương sự đều thống nhất có việc giao kết hợp đồng. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bên cạnh đó Công văn số 232/CV-BHXH ngày 24/02/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố T1 cũng xác định có sự việc đóng trùng bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn Văn T từ tháng 07/2011 đến tháng 06/2013 tại Công ty TNHH J., L theo sổ bảo hiểm mã số 7411054922.
[2.2] Việc ông Nguyễn Thanh H dùng chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Văn T để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH J., L là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo khoản 1 Điều 15 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019 đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận
[2.3] Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên không xem xét.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn Công ty TNHH J., L là về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 17, 19, 50, 51, 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (Các Điều 15, 16, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019);
- Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu với bị đơn Công ty TNHH J.,L.
- Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa ông Nguyễn Văn T và Công ty TNHH J1 từ tháng 07 năm 2011 đến tháng 06 năm 2013 bị vô hiệu toàn bộ.
- Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với ông Nguyễn Văn T theo quy định pháp luật.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000541 ngày 27/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP. Thuận An; - CCTHADS TP. Thuận An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 295/2025/LĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về hợp đồng lao động
- Số bản án: 295/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐLĐ vô hiệu
