Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 295/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Hồ Bá Võ
  • 2. Ông Trần Ngọc Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thái Thị Thu T, sinh năm 1992; Nơi thường trú: khối A, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm B, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2024, Bản tự khai ngày 14/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thái Thị Thu T trình bày: chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27/03/2024 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi

kết hôn được khoảng thời gian 01 tháng thì đến tháng 4/2024, anh Nguyễn Văn L đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, từ đó đến nay tình cảm vợ chồng mâu thuẫn không có tiếng nói chung, hai vợ chồng không thường xuyên liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Hiện nay, xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Tuy nhiên, do chị T và anh L đã lâu không liên lạc với nhau, mà anh L cũng không cung cấp địa chỉ cho chị T nên chị Thái Thị Thu T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Văn L tại Hàn Quốc, mà chỉ biết anh L thường xuyên liên lạc với chị Nguyễn Thị S (chị gái anh L), sinh năm 1978, địa chỉ: Xóm B, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An và chị S biết thông tin, địa chỉ cụ thể của anh L tại Hàn Quốc nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại chị Nguyễn Thị S để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn L không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn là anh Nguyễn Văn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 1305/QLXNC-Đ1 ngày 04 tháng 04 năm 2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì: “Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 01/08/1989 đã xuất cảnh ngày 20/4/2024 qua cửa khẩu S2, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh L ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng anh L vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại Bản tự khai ngày 10/05/2025, chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1978 (chị gái anh Nguyễn Văn L) trình bày: Chị là chị ruột anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989. Tháng 3/2024, anh L kết hôn với chị Thái Thị Thu T. Hiện nay anh Nguyễn Văn L đang đi xuất khẩu lao động và sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc. Chị S đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của Tòa án. Chị S đã thông tin cho anh Nguyễn Văn L biết về việc chị T yêu cầu ly hôn với anh L. Anh L cũng thường xuyên liên lạc với chị S qua điện thoại và mạng xã hội, nên sau khi nhận được các văn bản do Toà án gửi đến thì chị đã thông tin cho anh Nguyễn Văn L được biết về yêu cầu ly hôn của chị T, về việc cung cấp địa chỉ, cũng như ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị T cho Toà án. Tuy nhiên, do anh L đang sinh sống tại Hàn Quốc nhưng không cung cấp địa chỉ cho chị nên chị cũng không biết

và cũng không cung cấp được cho Tòa án. Đối với yêu cầu ly hôn của chị T, qua liên hệ chị S được biết anh L đồng ý ly hôn với chị T nhưng có đề nghị chị T trả lại số tiền 150.000.000 đồng mua xe ô tô (đứng tên chị T) và 07 chỉ vàng mà anh L đưa và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thái Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
    • + Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét.
    • + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
    • + Về án phí: Nguyên đơn chị Thái Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 24/12/2024, chị Thái Thị Thu T có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn

Văn L. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Thái Thị Thu T có nơi thường trú tại khối A, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An và anh Nguyễn Văn L có đăng ký thường trú tại xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng hiện nay anh L đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Theo kết quả xác minh tại Phòng Q - Công an tỉnh N thì: Anh Nguyễn Văn L đã xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế S2 vào ngày 20/4/2024, đến nay vẫn chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Văn L mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn L hiện nay vẫn đăng ký thường trú tại xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An, nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh L tại nước ngoài nhưng theo chị Nguyễn Thị S (chị gái anh Nguyễn Văn L) thì anh L vẫn thường xuyên liên lạc với chị S và gia đình qua điện thoại; chị S đã thông tin cho anh L được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh L tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị T nhưng anh L vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn L.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị Thu T:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Thái Thị Thu T và anh Nguyễn Văn L được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian ngắn thì có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã lâu sống ly thân, không liên lạc, không quan tâm nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh L lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống với nhau là không dài, nhưng đã ly thân một thời gian mà cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, anh L hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nhưng không liên lạc gì về với chị T, nguyên đơn chị T cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó

chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Theo lời khai của chị T và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Thái Thị Thu T và anh Nguyễn Văn L không có con chung nên Toà án không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị T không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại Bản tự khai ngày 10/5/2025, chị Nguyễn Thị S1 (chị gái anh L) có trình bày là thông qua chị thì anh L đề nghị chị T trả lại số tiền 150.000.000 đồng và 7 chỉ vàng mà anh đã đưa cho chị T. Toà án đã giao "Thông báo về việc làm đơn yêu cầu" cho chị Nguyễn Thị S để chị S thông báo cho anh Nguyễn Văn L về việc làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản, cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, cung cấp lời khai (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài) và cung cấp địa chỉ cụ thể của anh L ở nước ngoài để Toà án có cơ sở thụ lý yêu cầu giải quyết về phần tài sản của anh L. Tuy nhiên, đã hết thời hạn thông báo mà anh Nguyễn Văn L vẫn không làm đơn yêu cầu cũng không cung cấp các tài liệu, chứng cứ nên Tòa án không xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến yêu cầu giải quyết về phần tài sản cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị Thái Thị Thu T phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị Thu T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thái Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

2. Về quan hệ con chung: Chị Thái Thị Thu T và anh Nguyễn Văn L không có con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Thái Thị Thu T không yêu cầu và anh Nguyễn Văn L chưa có đơn yêu cầu nên Toà án chưa xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Thái Thị Thu T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0013982 ngày 12/03/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Thái Thị Thu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc,
  • tỉnh Nghệ An (theo Giấy Chứng nhận
  • kết hôn số 31/2024 ngày 27/03/2024);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 295/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 295/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị T và anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger