Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 295/2023/HSST

Ngày 18/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đậu Khắc Dinh

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Xuân Lễ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 237/HSST ngày 11/10/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2023/QĐXXST-HS ngày 01/12/2023 đối với bị cáo:

1. Bị cáo: Lưu Văn L, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2000; Nơi thường trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lưu Văn V, sinh năm 1973; Con bà: Trần Thị N, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ, con; Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ hai; Tiền án: Ngày 03/12/2021, tại Bản án số 164/2021/HSST bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xử phạt có 12 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS. Chấp hành xong án phạt tù ngày 23/8/2022; Tiền sự: Không. Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Tổ Dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2.3 Nhân chứng:

  • - Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1984

2

Địa chỉ: Thôn N, xã H thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

  • - Anh Lê Văn N1, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

  • - Anh Lê Văn S, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 02/12/2022, anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1989, thường trú tại Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe môtô một mình theo hướng từ Nhà máy G đi phường H, thị xã N. Khi về đến ngã tư thuộc Tổ dân phố T, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và rẽ trái thì suýt đâm va vào xe mô tô do Lưu Văn L, sinh năm 2000, thường trú tại Thôn T, xã N, thị xã N điều khiển chở Lê Văn N1, sinh năm 1992, trú tại Tổ dân phố H, phường M, thị xã N đi ngược chiều.

Nguyễn Ngọc T và Lưu Văn L cùng dừng xe để nói chuyện với nhau. Lưu Văn L có nói “đã uống rượu thì đi cẩn thận, đừng đi ngược chiều” thì T nhìn L như kiểu thách thức và nói “đi ngược chiều tí làm gì mà căng”. Sau đó, L không nói gì, đi về phía xe của mình. Khi vừa lên xe định đi thì nghe tiếng chửi đổng của T, L quay lại nhìn thì thấy ba người phía T đang chửi. Lúc này, L tức giận đi về phía T rồi bảo “Mày chửi ai” thì T bảo “Tau chửi mày, mày thích làm sao”. Thấy vậy, Lưu Văn L liền lao vào dùng tay đấm 02 (hai) phát trúng vào đầu (vùng thái dương) của T. Bị đánh, T tay cầm chìa khóa xe máy giơ lên phản kháng và đánh lại vào vùng đầu, tay L gây vết thương chảy máu. Lưu Văn L chạy lại xe máy của mình, mở cốp xe lấy một con dao nhọn (dạng dao bấm) tiến lại gần thì T lùi lại phía sau nhưng vẫn bị L cầm dao ở tay phải đâm 01 (một) phát trúng vào vùng mạn sườn bên trái. Ngay sau đó Nguyễn Ngọc Q, Lê Văn S (bạn T) và Lê Văn N1 (bạn L) can ngăn nhưng L vẫn hung hăng lao về phía anh T để đâm thêm khoảng 02 (hai) phát nữa nhưng không trúng. Sau đó, cả T và L đều được đưa vào Bệnh viện Đ, thị xã N để cấp cứu (BL 141-142; BL152-165; BL 115-116; BL131-135; BL 98-106).

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 03/12/2023 tại Tổ dân phố T, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xác định (BL 42-49):

Hiện trường được xác định là đoạn đường E, thuộc Tổ dân phố T, phường M, thị xã N, chạy dọc theo hướng Đông - T. Khu vực nơi xảy ra ra vụ án thuộc ngã tư, cách biển báo người đi bộ về hướng T là 17m. Quan sát xung quanh hiện

3

trường nơi xảy ra thấy: Tại vị trí nơi xảy ra vụ án có phía Đông tiếp giáp hướng đi phường H, có phía Tây tiếp giáp hướng đi Cầu Hổ, phía Nam tiếp giáp hướng đi UBND phường H, phía Bắc tiếp giáp hướng đi UBND phường M; mở rộng hiện trường không phát hiện dấu vết gì.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Ngọc T (BL 110):

Nguyễn Ngọc T, có: 01 (một) vết thương rách da vùng mạn sườn trái, không rõ hình, bờ mép vết sắc gọn, sâu không xác định, có chiều hướng từ ngoài vào trong, kích thước 2cm x 0,1cm. Theo Bệnh án của Nguyễn Ngọc T tại Bệnh viện Đ thể hiện: Vết thương ngực hở trái gây tràn máu khoang màng phổi.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Lưu Văn L (BL 140):

  • - 01 (một) vết thương tụ máu vùng đầu bên phải phía trên tai phải 15cm, không rõ hình, kích thước 1,5cm x 0,5cm;
  • - 01 (một) vết thương rách da, tụ máu tại vị trí đốt giữa ngón tay trỏ phải, bờ mép vết sắc gọn, kích thước dài 1,5cm.

Theo Bệnh án của Lưu Văn L tại Bệnh viện Đ thể hiện: Vết thương rách da đầu, chụp cắt lớp vi tính sọ não bình thường; vết xước da ngón 2 tay phải.

Kết quả trưng cầu giám định.

- Đối với thương tích của Nguyễn Ngọc T.

  • * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1074/KLTTCT – PYTH ngày 18/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc T tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư (BL76-78)
  • * Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số 1075/KLVGTT-PYTH ngày 19/7/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận (BL 79-81):

+ Tại vùng mạn sườn trái có vết thương rách da, bờ mép vết thương sắc gọn: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương tràn dịch, tràn máu khoang màng phổi trái; đã được điều trị, hiện tại còn di chứng (sẹo vết thương phần mềm vùng mạn sườn trái; sẹo mổ dẫn lưu khoang màng phổi trái ngang mức khoang liên sườn 5-6 đường nách giữa bên trái);

4

+ Kết luận khác: Với thương tích như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể gây nên hậu quả chết người.

- Đối với thương tích của Lưu Văn L.

  • * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 1530/KLTTCT-PYTH ngày 25/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lưu Văn L tại thời điểm giám định là 06% (Sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư (BL 93-94).
  • * Tại Kết luận giám định vật gây thương tích, số 1531/KLVGTT-PYTH ngày 25/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận (BL 95-96):

+ Tại vùng đầu bên phải trên tai phải vết thương tụ máu: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết, xuất huyết mô mềm và hội chứng chấn động não;

+ Tại vị trí đốt giữa ngón tay trỏ phải có vết thương rách da, tụ máu, bờ mép vết sắc ngọt: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm;

Giám định dữ liệu điện tử (BL 57).

Ngày 18/4/2023, Phòng KTHS Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 1487/KL-KTHS nội dung: “Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định; Mô tả một số hình ảnh từ tệp video gửi giám định”.

Vật chứng và các đồ vật liên quan đến vụ án.

Đối với con dao bấm mà L dùng để đâm anh T, L khai mua của người bán hàng rong trước đó khoảng vài tháng; loại dao bấm bằng kim loại nhưng đã hỏng chốt bấm; kích thước dài khoảng 15cm - 20cm, rộng khoảng 1,5cm; một đầu nhọn, hai bên sắc; cán dao bằng kim loại và rộng hơn. Con dao này L luôn để ở trong cốp xe với mục đích phòng vệ khi cần thiết. Sau khi gây án thì L đã vứt ở ven đường (một bên đồng ruộng) trên đường xuống Trạm y tế phường M, không nhớ chính xác vị trí nào vì lúc đó trời tối (BL 154).

Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được con dao trên (BL 50).

5

Bản cáo trạng số 142/CT-VKS-P2 ngày 10/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã: truy tố Lưu Văn L về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự (BLHS).

Về trách nhiệm dân sự: (BL 150-151).

Ngày 14/01/2023, bị cáo Lưu Văn L đã khắc phục, bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc T với số tiền là 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng). Anh T đã nhận khoản tiền bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX), căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 57; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Giết người”

Xử phạt bị cáo Lưu Văn L từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần đền bù dân sự đã xong nên không xét;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo bị hại không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 20 giờ, ngày 02/12/2022 tại đoạn đường T, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ khi tham gia giao thông nên giữa Nguyễn Ngọc T và Lưu Văn L có lời qua tiếng lại, chửi bới, xô xát nhau. Lưu Văn L đã có hành vi lấy một dao nhọn (dạng dao bấm, gọt hoa quả) đâm 01 (một) phát vào mạn sườn trái của anh Nguyễn Ngọc T khiến anh T bị tổn hại sức khỏe 5%. Hành vi của Lưu Văn L đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Lưu Văn L đã phạm tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 và Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án:

Đây là vụ án “Giết người” có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của Lưu Văn L đã dùng hung khí nguy hiểm (dao bấm) có tính sát thương cao đâm vào

6

vùng mạn sườn (ngực trái) của anh Nguyễn Ngọc T gây vết thương sâu thấu thành ngực, gây tràn dịch khoang màng phổi. Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực hình ảnh tràn dịch khoang màng phổi trái tổn thương thấu thân ngực ở cung bên gian sườn 7-8 bên trái, tổn thương mờ kẽ thùy dưới, khả năng do tăng ứ đọng. Anh Nguyễn Ngọc T không bị tử vong là do được cấp cứu kịp thời. Mặc dù bị anh Nguyễn Ngọc T cầm chùm chìa khóa xe trong tay đấm lại 01 phát trúng vào đầu Lưu Văn L nhưng hành vi cầm dao đuổi theo để đâm anh T thể hiện tính quyết liệt, mặc dù được can ngăn nhưng vẫn cố ý thực hiện đến cùng, thể hiện ý thức tước đoạt mạng sống của người khác.

Hành vi trên đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của anh T, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác, xâm phạm đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Ngoài ra bị cáo đang có một tiền án chưa được xoá án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần được xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, do hậu quả chết người chưa xảy ra nên bị cáo được áp dụng Điều 57 BLHS về Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 14/01/2023, bị cáo Lưu Văn L đã khắc phục, bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc T với số tiền là 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng). Anh T đã nhận khoản tiền bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Công nhận phần bồi thường dân sự hai bên đã thực hiện xong nên HĐXX không xem xét.

[5] Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn L có 01 tiền án chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động và cùng gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[6] Về các tình tiết khác của vụ án:

Khi hai bên xô xát, chửi bới nhau, thì Nguyễn Ngọc T có hành vi dùng chìa khóa xe máy đang cầm trong tay đánh lại Lưu Văn L, gây thương tích xây xước da vùng đầu và tay (vết thương phần mềm) làm tổn thương 06% sức khỏe; bản thân Lưu Văn L không có đề nghị bồi thường gì, không có yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Ngọc T, nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với T. Tuy nhiên, hành vi của Nguyễn Ngọc T đã phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7

7

Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T sẽ chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho Công an thị xã N xử lý theo quy định của pháp luật (BL 201).

[7] Về xử lý vật chứng và các đồ vật liên quan đến vụ án.

Đối với con dao bấm mà Lưu Văn L dùng để đâm anh T, L khai mua của người bán hàng rong trước đó khoảng vài tháng; loại dao bấm bằng kim loại nhưng đã hỏng chốt bấm; kích thước dài khoảng 15cm - 20cm, rộng khoảng 1,5cm; một đầu nhọn, hai bên sắc; cán dao bằng kim loại và rộng hơn. Con dao này L luôn để ở trong cốp xe với mục đích phòng vệ khi cần thiết. Sau khi gây án thì L đã vứt ở ven đường (một bên đồng ruộng) trên đường xuống Trạm y tế phường M, không nhớ chính xác vị trí nào vì lúc đó trời tối (BL 154). Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được con dao trên (BL 50).

[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu văn L, phạm tội “Giết người

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 57; Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn L 06 (Sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2023, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần đền bù dân sự giữa bị cáo và bị hại đã xong.

4. Xử lý vật chứng: Do vật chứng không thu giữ được nên không xem xét.

5. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá
  • - Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo, bị hại
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

8

  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu tòa HS

Đào Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 295/2023/HSST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội giết người

  • Số bản án: 295/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn L "Giết người"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger