TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA THÀNH PHỐ HN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 294/2023/HS-ST Ngày: 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Nam
Bà Ngô Thị Yêm
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân
huyện ĐA, thành phố HN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA, thành phố HN tham gia
phiên tòa: Bà: Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố HN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 281/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 305/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Vương Trịnh T, sinh năm 1975, tại NĐ; Nơi thường trú: 13/24 LPT, phường TB, thành phố HD, tỉnh HD; Nghề nghiệp: Công nhân Công ty X, Đảng viên (Đã đình chỉ sinh hoạt Đảng); trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Trịnh K (c) và bà Đinh Thị L (c); có vợ là Vũ Thị Thu H, sinh năm 1978; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến 23/9/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Hữu N, sinh năm 1965, tại HD; Nơi thường trú: Thôn TK, xã ĐL, huyện NS, tỉnh HD; Nơi ở hiện tại: Tổ 20 thị trấn ĐA, huyện ĐA, thành phố HN; Nghề nghiệp: Công nhân Công ty X; trình độ văn hoá 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P (c) và bà Bùi Thị T1 (c); có vợ là Lê Thị O, sinh năm 1971; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1999); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến 23/9/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Văn S, sinh năm 1973, tại NĐ; Nơi thường trú: thôn TL, xã TD, huyện ĐA, thành phố HN; Nghề nghiệp: Lái xe Công ty X; trình độ văn hoá 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 (c) và bà Đoàn Thị H1 (c); Vợ là Vũ Thị S1, sinh năm 1978; Con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2006); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến 23/9/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. Lê Thế M, sinh năm 1954, tại TH; Nơi thường trú: Tổ 12 thị trấn ĐA, ĐA, thành phố HN; Nghề nghiệp: Nhân viên Công ty X, Đảng viên (Đã đình chỉ sinh hoạt Đảng); trình độ văn hoá 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thế X (c) và bà Nguyễn Thị X1 (c); có vợ là Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1984); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến 23/9/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo M là: Ông: Vũ Văn Dũng, là Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh TGPL số 5 – Trung tâm TGPLNN thành phố HN (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 20/9/2023, Vương Trịnh T, Lê Hữu N, Trần Văn S, Lê Thế M đến ăn uống tại nhà ăn thuộc Công ty CP X, địa chỉ tổ 20, thị trấn ĐA, huyện ĐA, thành phố HN. Đến 20 giờ cùng ngày, cả 4 rủ nhau đánh bạc, sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân, chơi theo hình thức đánh “Phỏm ăn tiền”. S là người chuẩn bị công cụ đánh bạc (bộ bài tú lơ khơ), rồi cùng nhau đánh bạc. Quy định mỗi ván người chia bài sẽ chia cho mỗi người 08 (quân bài) lá, riêng người chia bài thì được 09 lá, số lá còn lại sẽ được đưa ra giữa để bốc. Lượt đánh từ đầu sẽ từ người chia bài đến người bên cạnh theo chiều quay kim đồng hồ, từng người lần lượt sẽ ra các lá bài trên tay chuyển cho người bên cạnh. Người sau ăn được lá bài thì tạo thành Phỏm, nếu không ăn được thì sẽ phải bốc 1 lá bài ở giữa. Ván bài sẽ kết thúc khi trong bàn có 1 người chơi Ù (có 03 phỏm trên tay), nếu trong bàn không có ai Ù, sau 4 lượt ván bài sẽ kết thúc hoặc sẽ tính điểm các lá bài còn lại sau 04 lượt. Tính tổng điểm các lá bài còn lại (trừ các lá phỏm), xếp thứ tự thắng thua theo số điểm thấp, tổng điểm thấp nhất thì về nhất, cứ thế cho đến người về bét. Số điểm của mỗi lá bài là số trên lá bài đó, riêng các lá A, J, Q, K sẽ được tính điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13, trong trường hợp điểm số bằng nhau, người hạ bài sau sẽ bị xử thua. Người chơi bị Móm (không hạ được Phỏm nào) bị gọi là “cháy” về bét. Số tiền thắng thua quy định người ù được 450.000 đồng từ 03 người chơi còn lại (mỗi người nộp 150.000 đồng), ù đền thì mỗi người còn lại sẽ được 150.000đồng từ người bị ù đền, người nào bị “cháy bài” thì mất 100.000 đồng cho người nhất, người “cháy” sau thì mất tiền cho người “cháy” trước. Người nhất thì ăn tiền của người về bét là 100.000 đồng, người về nhì ăn tiền của người về ba là 50.000 đồng. Tất cả ngồi chơi đến 22giờ 30 phút thì bị Công an thị trấn ĐA bắt quả tang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển đến Cơ quan điều tra Công an huyện ĐA giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng tạm giữ:
- - Tạm giữ vật chứng trên chiếu bạc gồm: Số tiền do ngân hàng nhà nước Việt Nam: 14.645.000 đồng (trong đó có 5.985.000 đồng trên chiếu và 8.510.000 đồng trên người các bị cáo); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 01 (Một) chiếu có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc kích thước khoảng (1,6 x1,6)m.
- - Tạm giữ của các bị can gồm:
- Thu của Vương Trịnh T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 FE màu xanh bên trong lắp sim số thuê bao: 0984540970; 01 (Một) ví da màu đen có in chữ TOMA.
- Thu của Trần Văn S: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen bên trong lắp sim số thuê bao: 0392054459; 01 (Một) ví da màu đen có in chữ CHANEL.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.
Tại bản cáo trạng số 265/CT-VKS-ĐA ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA truy tố các bị cáo Vương Trịnh T, Lê Hữu N, Trần Văn S, Lê Thế M về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vương Trịnh T khai nhận: Mang 9.210.000 đồng mới bỏ ra 700.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện bắt quả tang, đang thua 50.000 đồng, bị tạm giữ: 650.000 đồng trên chiếu bạc và 8.510.000 đồng trong chiếc ví để dưới chiếu bạc. Lê Hữu N khai nhận: Mang 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện bắt quả tang thắng được 200.000 đồng và bị tạm giữ 1.200.000 đồng trên chiếu bạc. Trần Văn S khai nhận: Mang 2.885.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện bắt quả tang đang thua 150.000 đồng và bị tạm giữ: 150.000 đồng trên chiếu bạc và 2.585.000 đồng trong chiếc ví để dưới chiếu bạc. Lê Thế M khai nhận: Mang 1.550.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện bắt quả tang và bị tạm giữ: 1.550.000 đồng trên chiếu bạc. Nay các bị cáo rất ân hận hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt để có nhiều cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình và dạy bảo con cháu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 (thêm điểm x khoản 1 đối với N) Điều 51, Điều 35; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Vương Trịnh T, Trần Văn S từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử phạt: Lê Hữu N, Lê Thế M từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài Tây tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 (Một) chiếu có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc kích thước khoảng (1,6x1,6) m. Tịch thu nộp ngân sách số tiền 14.645.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo Lê Thế M là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí, còn các bị cáo khác phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tham gia tranh luận, hay bào chữa gì.
Người bào chữa cho bị cáo là ông Vũ Văn Dũng trình bày ý kiến: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung vụ án, nên đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm mức án thấp hơn nữa so với mức án Viện kiểm sát đề nghị miễn án phí cho bị cáo M.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Điều tra viên Công an huyện ĐA đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo, đương sự không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản thu giữ tang vật và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ.
Do đó có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/9/2023 tại Công ty CP X ở tổ 20, thị trấn ĐA, huyện ĐA, thành phố HN Vương Trịnh T, Lê Hữu N, Trần Văn S, Lê Thế M sau khi ăn uống xong tại nhà ăn thuộc Công ty rồi rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “phỏm” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng đánh bạc tại chiếu 5.985.000 đồng và trên người các bị cáo 8.510.000 đồng. Hành vi ấy của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA truy tố các bị cáo bằng bản cáo trạng số 265/CT-VKS- ĐA ngày 27 tháng 11 năm 2023 là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng. Do đó việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến vai trò, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật Hình sự quy định để có một mức hình phạt cho tương xứng.
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Không phân hóa vai trò, nên chỉ căn cứ vào số tiền đánh bạc và nhân thân của các bị cáo để có một mức án tương xứng. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội và là loại tội ít nghiêm trọng đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra gia đình bị cáo Vương Trịnh T có đóng góp công sức trong cuộc kháng chiến chống Pháp; bị cáo Trần Văn S có anh trai ruột được Chủ tịch nước tặng huân, huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, đã có nhiều thành tích phục vụ trong quân đội; bị cáo Lê Thế M đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Hội đồng bộ trưởng tặng Huy chương kháng chiến, nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Hữu N là con liệt sỹ, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, số tiền đánh bạc không nhiều, bản thân các bị cáo và gia đình các bị cáo có nhiều công sức với cách mạng nên cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và đơn đề nghị của các bị cáo cũng có đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích trong xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã bị xử phạt tiền là hình phạt chính, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định pháp luật.
[5] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện ĐA có thu và xử lý còn chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA 01 (một) bộ bài Tây tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 (Một) chiếu có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc kích thước khoảng (1,6 x1,6) m và số tiền 14.645.000 đồng.
Xét bộ bài Tây tú lơ khơ, chiếu là dụng cụ sử dụng vào việc phạm tội, giá trị sử dụng không còn, nên tịch thu tiêu hủy, còn số tiền 14.645.000 đồng dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo Lê Thế M là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí, còn các bị cáo khác phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Vương Trịnh T, Lê Hữu N, Trần Văn S và Lê Thế M phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vương Trịnh T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Văn S số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Lê Thế M số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu N số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài Tây tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 (Một) chiếu có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc kích thước khoảng (1,6 x 1,6)m.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 14.645.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn đồng)
(Số tiền và vật chứng trên được chuyển theo Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự ngày 29/11/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2023 giữa Công an huyện ĐA với Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐA)
Bị cáo Vương Trịnh T, Lê Hữu N, Trần Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Thế M được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Khánh |
Bản án số 294/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HN về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 294/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Trịnh T và đồng phạm
