Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 294/2023/HS-ST

Ngày: 29-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Phương Hồ.

2/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 265/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Trọng N, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng Á (chết) và bà Nguyễn Thị X (chết); anh, chị, em ruột: 03 người kể cả bị cáo; vợ: Huỳnh Cẩm U, sinh năm: 1990, không có đăng ký kết hôn; con: 02 người, sinh năm 2010 và sinh năm 2012; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 12/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1 thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 15/QĐ-TA. Ngày 13/10/2022, chấp hành xong trở về địa phương.

Nhân thân:

Ngày 30/6/2006, bị Ủy ban nhân dân huyện C quyết định đưa vào Trường G về hành vi cố ý gây thương tích theo Quyết định số 913/QĐ-UB. Ngày 08/7/2008 chấp hành xong trở về địa phương;

Ngày 20/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy P2 thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 117/QĐ-TA. Ngày 08/3/2017, chấp hành xong trở về địa phương;

Ngày 27/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy P2 thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 191/QĐ-TA. Ngày 31/12/20219, chấp hành xong trở về địa phương;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/6/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1997 tại tỉnh Bến Tre;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1975 và bà Phan Thanh S, sinh năm: 1980; anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; chồng: Trần Thanh S1, sinh năm: 1994; con: 02 người, sinh năm 2019 và sinh năm: 2023; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm: 1988; địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  2. Ông Thạch C, sinh năm: 1999; địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  3. Bà Thái Thị N1, sinh năm: 1970; địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  4. Ông Nguyễn Trường H, sinh năm: 1993; địa chỉ: Ô, Số A, khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Thành P, sinh năm: 1994; địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  6. Ông Võ Hoàng N2, sinh năm: 1994; địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Trọng NNguyễn Thị Kim T sống chung với nhau như vợ chồng tại phòng trọ thuộc Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08 tháng 6 năm 2023, N điều khiển xe gắn máy mang biển số: 70F1-297.44 chở T đi từ phòng trọ đến khu vực ngã tư T để mua ma túy về sử dụng, phần ma túy còn dư N sẽ bán lại kiếm lời. Tại đây, N và T gặp một người tên T2 (không rõ lai lịch) hỏi mua 2.200.000 đồng ma túy đá, T2 đồng ý. N đưa cho T2 2.200.000 đồng và nhận 01 gói ma túy đá từ T2. Sau đó, N đưa gói ma túy cho T, T nhận gói ma túy và giấu dưới bàn chân trái. Sau đó, N điều khiển xe chở T đi về. Khi đi đến trước nhà Số G, Đường số D thuộc Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Vào giữa tháng 5 năm 2023, N và T đã mua 500.000 đồng tiền ma túy của một người thanh niên tên Q (không rõ lai lịch) để về sử dụng. Đến ngày 05 tháng 6 năm 2023 N và T tiếp tục mua 2.200.000 đồng tiền ma túy của người thanh niên tên T2 (không rõ lai lịch) thông qua số thuê bao 0909.496.266 để về sử dụng. Ngoài ra, N đã bán ma túy cho Huỳnh Thanh T1 được 02 lần; lần thứ nhất vào giữa tháng 5 năm 2023, lần thứ hai vào ngày 02 tháng 6 năm 2023; mỗi lần, N bán cho T1 01 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng và N đã bán ma túy cho Thạch C được 02 lần; lần thứ nhất vào ngày 04 tháng 6 năm 2023, lần thứ hai vào ngày 07 tháng 6 năm 2023; mỗi lần, N bán cho C 01 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng. Số tiền bán ma túy thu được 800.000 đồng, bị cáo N dùng để tiêu xài cá nhân và mua lại chất ma túy.

Tiến hành xét nghiệm (test) ma túy đối với N và T có kết quả dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp (ma túy đá).

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Thị Kim T:

  • + 01 gói nylong bên trong có chứa tinh thể không màu;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Vivo có số imei 1 : 869949061364061; imei 2: 869949061364079;

- Thu giữ của Trần Trọng N:

  • + 01 điện thoại di động hiệu S2 có số imei 1: 352393114953869/01; imei 2: 352354114953867/01 (điện thoại của N);
  • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • + 01 cân điện tử;
  • + 01 cái kéo;
  • + 10 đoạn ống nhựa;
  • 01 xe gắn máy mang biển số: 70F1-297.44, hiệu Honda loại Wave, có số máy: HC12E5359654; Số khung: RLHHC1213DY359470, đây là xe gắn máy của ông Nguyễn Trường H, Công an điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Bản kết luận giám định số 6248/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,6577 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Trần Trọng NNguyễn Thị Kim T thành khẩn khai báo ăn năn hối cải.

Bản cáo trạng số: 248/CT-VKS.CC ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử:

- Bị cáo Trần Trọng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trọng NNguyễn Thị Kim T thừa nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo và đồng ý với Kết luận giám định số: 6248/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng K Công an Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Trọng N từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T từ 05 (năm) năm 06 tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đối với người thanh niên tên Q và người thanh niên tên T2 thông qua số thuê bao 0909496266 đã bán ma túy cho N hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

- Đối với hành vi mua trái phép chất ma túy của Huỳnh Thanh T1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định số: 193/QĐ-UBND ngày 29/6/2023, áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương.

- Đối với hành vi mua trái phép chất ma túy của Thạch C, Công an xã P ra Quyết định số: 0010668 ngày 16/6/2023, xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo N không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo T không tranh luận, không tự bào chữa.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

- Bị cáo N: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo T: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo N và bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng 248/CT-VKS.CC ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ.

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08 tháng 6 năm 2023, N điều khiển xe gắn máy chở T đi mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến trước nhà Số G Đường số D, Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 5,6577 gam ma túy, loại Methamphetamin. Qua điều tra và các bị cáo khai nhận: Bị cáo N và bị cáo T đã nhiều lần cùng nhau mua ma túy về sử dụng. Riêng đối với bị cáo N, nếu không sử dụng hết số ma túy đã mua được trước đó thì bị cáo N đem bán lại cho các con nghiện để kiếm tiền tiêu xài. Trước đó, bị cáo N đã bán ma túy cho Huỳnh Thanh T1 được 02 lần và bán cho Thạch C được 02 lần. Tại bản kết luận giám định số 6248/KL-KTHS ngày 16/6/2023của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,6577 gam, loại Methamphetamine. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Trần Trọng NNguyễn Thị Kim T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Trọng N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định điểm điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; và bị cáo Nguyễn Thị Kim T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyên và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý. Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo N và bị cáo T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm móng phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài đủ để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo Trần Trọng N chưa tốt. Bị cáo có 01 tiền sự vào năm 2021, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1 thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 15/QĐ-TA ngày 12/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Ngày 13/10/2022, chấp hành xong trở về địa phương;

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối bị cáo T: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đang mang thai và đã sinh con vào ngày 11/9/2023 tại Bệnh viện huyện C (theo giấy chứng sinh Mã GCS: 00223.GCS.79039.23, Số: 23KSAN000527, Quyển số: T9.2023 ngày 15/9/2023) nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy, các bị cáo NT là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về nhân thân:

  • - Bị cáo N đã bị Ủy ban nhân dân huyện C quyết định đưa vào Trường G về hành vi cố ý gây thương tích vào năm 2006. Vào các năm 2015 và năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với các vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được gồm:

  • + 01 (một) gói nylong bên trong có chứa tinh thể không màu; được niêm phong trong gói mang số vụ 6248(1290)/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
  • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • + 10 (mười) đoạn ống nhựa bên trong không chứa gì;
  • + 01 (một) cái kéo kim loại.

Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo có imei 1: 869949061364061; imei 2: 869949061364079 của Nguyễn Thị Kim T, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo T.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung có imei 1: 352393114953869/01; imei 2: 352354114953867/01 của Trần Trọng N. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

- Đối với 01 cân điện tử; N dùng phân chia ma túy là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

- Đối với số tiền thu lợi bất chính 800.000 đồng của bị cáo N tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo nộp ngân sách nhà nước.

[8] Những vấn đề khác của vụ án:

- Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số: 70F1-297.44, số khung RLHHC1213DY359470, số máy HC12E5359654. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Trường H là phù hợp. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với người thanh niên tên Q và người thanh niên tên T2 thông qua số điện thoại 0909.496.xxx đã bán ma túy cho N hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp. Viện kiểm sát không ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với hành vi mua trái phép chất ma túy của Huỳnh Thanh T1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định số: 193/QĐ-UBND ngày 29/6/2023, áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương là phù hợp. Viện kiểm sát không ý kiến nên Hội đồng xét xử xét không xét.

- Đối với hành vi mua trái phép chất ma túy của Thạch C, Công an xã P ra Quyết định số: 0010668 ngày 16/6/2023, xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp. Viện kiểm sát không ý kiến nên Hội đồng xét xử xét không xét.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, buộc các bị cáo NT phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Đối với bị cáo Trần Trọng N:

Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trần Trọng N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023.

[2] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim T:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

[3] Xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) gói nylong bên trong có chứa tinh thể không màu; được niêm phong trong gói mang số vụ 6248(1290)/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
  • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • + 10 (mười) đoạn ống nhựa bên trong không chứa gì;
  • + 01 (một) cái kéo kim loại.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 cân điện tử;
  • + 01 điện thoại di động hiệu S2 có số imei 1: 352393114953869/01; imei 2: 352354114953867/01 của Trần Trọng N.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo có số imei 1: 869949061364061; imei 2: 869949061364079.

(Các vật chứng trên được liệt kê theo Phiếu nhập kho vật chứng số 225/PNK ngày 19/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, bút lục 34).

- Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Trọng N 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

[4] Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Trần Trọng N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Anh Đạt

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 294/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 294/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trọng N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự Nguyễn Thị Kim T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger