|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 294/2023/DS-PT Ngày: 27-12-2023 V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Thẩm phán:
- Ông Khưu Để Dành;
- Ông Lê Thanh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 225/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 142/2023/DS-ST ngày 13/7/2023; Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số: 68/2023/QĐ-SCBSBAQĐ ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 262/2023/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 298/2023/QĐ-PT ngày 26/10/2023; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 141/TB-TA ngày 05/12/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Hà Quang Thanh L, sinh năm 2003; hộ khẩu thường trú: Số B đường số A KDC B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Lô H đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L là: bà Bùi Thị Quang C, sinh năm 1971; hộ khẩu thường trú: Số B đường số A KDC B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Lô H đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn:
- Bà Đinh Thị H, sinh năm 1947 (mẹ ông S); hộ khẩu thường trú: Số B đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: 457 KDC C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của bà H là: bà Hà Ngọc B, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: số B khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: Số A H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H là: Luật sư Trần Văn S1, Luật sư Văn phòng luật sư Trần Văn S1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: số B B đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1938 (cha ông S, chồng bà H); hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã V, huyện T, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ là: bà Hà Thị Hồng P, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số A H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH B1 Đầu tư khai thác chợ B1; Trụ sở: Số A ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo pháp luật Công ty là: ông Trần Thành T, chức vụ: Giám đốc (xin vắng mặt).
- Bà Hà Thị Thanh T1, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: Số B đường số A KDC B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Lô H đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1 là: bà Bùi Thị Quang C, sinh năm 1971; hộ khẩu thường trú: Số B đường số A KDC B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Lô H đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Ôn Thị Ngọc C1, sinh năm 1983; nơi cư trú: số A đường H, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Hà Trường Hy Phú S2, sinh năm 1969; nơi cư trú: số A đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Bá T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Ngân hàng thương mại cổ phần S4; Trụ sở: số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng: ông Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Chu Toàn T3, chức vụ: chuyên viên quản lý nợ; Địa chỉ nơi làm việc: Ngân hàng thương mại cổ phần S4 - Chi nhánh A. Trụ sở: số C đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (xin vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Ngày 26/7/2023 nguyên đơn ông Hà Quang Thanh L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Hà Thị Thanh T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án chấp nhận việc yêu cầu chia thừa kế của các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông L do bà Bùi Thị Quang C đại diện theo ủy quyền cho ông L trình bày:
Cha mẹ ông L là (bà Bùi Thị Quang C và ông H6 ly hôn năm 2010).Từ đó đến nay ông S không kết hôn với ai, cũng không có con riêng hay con nuôi, ông H6 cha của ông chết ngày 14/5/2022 do bệnh, hàng thừa kế của ông S gồm có H7, Hà Thị Thanh T1 (là con của ông S), cha mẹ ông S là bà Đinh Thị H và ông Hà Văn Đ, di sản của ông S chết để lại gồm có:
- Quyền sử dụng thửa đất có diện tích 117,1m², thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 53, tọa lạc tại số A đường C, tổ F, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH05867 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 22 tháng 7 năm 2015 cho ông Hà T4 H6 và căn nhà cấp 4, diện tích 90m² gắn liền với thửa đất (trị giá tài sản khoản 1.000.000.000 đồng).
- 03 (ba) lô nền tại khu dân cư chợ A1 (xã A, huyện C, tỉnh An Giang) thuộc dự án của Công ty TNHH B1 (trị giá tài sản khoản 1.200.000.000 đồng).
- 01 (một) xe ô tô khách 16 chỗ ngồi biển số 67B-012.30, nhãn hiệu FORD, số loại: TRANSIT; số máy: G4P11337DURATORQ4D243H, số khung: RL3MLTGMCGCR43430 (trị giá khoản 400.000.000 đồng).
- 02 (hai) xe mô tô biển số 67B1-201.97, biển số 67B1-010.17 (trị giá khoản 10.000.000 đồng).
- Sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S4 - Chi nhánh C2: 218.057.226 đồng.
Ông L yêu cầu chia di sản nêu trên cho 04 người, ông L xin nhận toàn bộ hiện vật và hoàn tiền lại cho ông bà nội và chị, nếu chị ông cũng muốn nhận hiện vật thì chị em ông sẽ thỏa thuận với nhau. Do ông, bà nội đã lớn tuổi, có nhà ở ổn định, cũng không có nhu cầu sử dụng xe.
Ngoài ra, ông S còn khai có các di sản khác là: 02 hecta đất trồng bơ ở Đắk Nông; 30.000.000 đồng cho ông T vay; 200.000.000 đồng cho ông N vay. Ông L yêu cầu chia di sản thừa kế đối với các tài sản này, thông tin cụ thể của các tài sản này thì ông L sẽ cung cấp cho Tòa án sau. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông L rút yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với 02 xe mô tô biển số 67B1-201.97, biển số 67B1-010.17; không tranh chấp các tài sản khác; chỉ yêu cầu chia thừa kế cho 04 người thừa kế các tài sản gồm:
- Yêu cầu chia thừa kế xe ô tô 67B-012.30, bà C1 đã đặt cọc mua của ông S, nếu không mua nữa thì mất cọc; Yêu cầu bà H hoặc ông Đ nhận xe này, hoàn giá trị một kỷ phần thừa kế là 300.000.000 đồng : 4 = 75.000.000 đồng cho các thừa kế còn lại, ai nhận xe thì tự giải quyết việc tiền cọc 100.000.000 đồng với bà C1.
- Yêu cầu chia thừa kế số tiền trong các tiết kiệm ông S đứng tên gồm:
+ 5.519.288 đồng (tính đến ngày 29 tháng 7 năm 2022) trong tài khoản số [...], chủ tài khoản H6, tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 - Chi nhánh A.
+ 51.371 đồng (tính đến ngày 29 tháng 7 năm 2022) trong tài khoản số [...], chủ tài khoản H6, tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 - Chi nhánh A.
+ 208.057.226 đồng (tính đến ngày 29 tháng 7 năm 2022) trong tài khoản số [...], chủ tài khoản H6, tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 - Chi nhánh A; Tổng cộng: 213.627.885 đồng chia đều cho 04 người thừa kế.
- Yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng thửa đất có diện tích 117,1m², thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 53, tọa lạc tại số A đường C, tổ F, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH05867 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 22 tháng 7 năm 2015 cho ông Hà T4 H6 và căn nhà cấp 4, diện tích 90m² gắn liền với thửa đất trên (trị giá tài sản khoản 1.000.000.000 đồng).
- Yêu cầu chia thừa kế 03 (ba) lô nền tại khu dân cư chợ A1 (xã A, huyện C, tỉnh An Giang) thuộc dự án của Công ty TNHH B1 (trị giá tài sản khoản 1.200.000.000 đồng), ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Đinh Thị H do bà Hà Ngọc B đại diện theo ủy quyền và ông Hà Văn Đ do bà Hà Thị Hồng P đại diện theo ủy quyền cùng trình bày:
Thống nhất ý kiến của nguyên đơn ông L về việc ông Hà Trường Hy Phú S3 (chết ngày 15/4/2022) hàng thừa kế của ông S3 gồm có ông L, bà T1, bà H, ông Đ, về di sản của ông S3 chết để lại do nguyên đơn trình bày, thì bà B, bà P có ý kiến như sau:
- Quyền sử dụng thửa đất có diện tích 117,1m², thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 53, tọa lạc tại số A đường C, tổ F, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH05867 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 22 tháng 7 năm 2015 cho ông Hà T4 H6 và căn nhà cấp 4, diện tích 90m² gắn liền với thửa đất ông S3 đã chuyển nhượng xong cho bà Hà Ngọc B với giá 140.000.000 đồng vào ngày 30/3/2021 (bà B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật).
- 01 (một) xe ô tô khách 16 chỗ ngồi biển số 67B-012.30, nhãn hiệu FORD, ông S3 vay của bà Holly Hà H1 số tiền 30.000.000 USD để mua xe và sửa xe. Bà Holly Hà H1 có ủy quyền cho bà Đinh Thị H yêu cầu những người thừa kế của ông S3 trả lại số tiền này; nhưng nay bà H1 và bà H không có đơn khởi kiện yêu cầu về vấn đề này, trước khi chết ông S3 nhận đặt cọc 100.000.000 đồng để bán xe này cho bà Ôn Thị Ngọc C1, nhưng ông S3 chết nên chưa làm thủ tục mua bán; Xe ô tô này hiện do ông Hà Trường Hy Phú S2 (anh ông S3) gửi tại bãi giữ xe do ông Nguyễn Bá T2 làm chủ, địa điểm ở quận T, thành phố Cần Thơ, bà thống nhất với ý kiến của nguyên đơn xác định giá trị xe 400.000.000 đồng, bà H đồng ý nhận xe ô tô, hoàn trả cho L, T1, Đây mỗi người 75.000.000 đồng, trả tiền cọc 100.000.000 đồng cho bà C1; riêng 01 (một) xe hai bánh biển số 67B1-201.97, nhãn hiệu HONDA và 01 (một) xe hai bánh biển số 67B1-010.17, nhãn hiệu HONDA; bị đơn không biết 02 xe mô tô này có tồn tại, nên không tranh chấp.
- Đối với số tiền đang gửi tại S5 do Ngân hàng xác định số dư trong tài khoản tiền gửi ông S3, thống nhất chia thừa kế cho 04 người thuộc hàng thừa kế của ông S3 như nguyên đơn yêu cầu.
- 03 (ba) lô nền tại khu dân cư chợ A1 (xã A, huyện C, tỉnh An Giang) thuộc dự án của Công ty TNHH B1 Đầu tư khai thác chợ B1; 02 hecta đất trồng bơ ở Đắk Nông; 30.000.000 đồng cho ông T vay; 200.000.000 đồng cho ông N vay; bị đơn hoàn toàn không biết gì về các tài sản này của ông S3, nếu có những tài sản này thì cũng thống nhất chia thừa kế cho 04 người, ông L nhận bằng hiện vật thì có nghĩa vụ hoàn trả lại bằng giá trị kỷ phần mà những người còn lại được hưởng.
3.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ôn Thị Ngọc C1 trình bày:
Bà đặt cọc 100.000.000 đồng cho ông S3 nhận 100.000.000 đồng để mua xe ô tô biển số 67B-012.30 của ông S3 đứng tên. Nay ông S3 chết thì bà yêu cầu giải quyết theo hai hướng: một là L,T1, H, Đ phải liên đới trả cho bà tiền cọc mua xe là 100.000.000 đồng, hai là cho bà được tiếp tục mua xe ô tô nêu trên với giá 300.000.000 đồng, có trừ tiền cọc thì còn 200.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
3.4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH B1 đầu tư khai thác chợ B1 do ông Trần Thành T đại diện trình bày:
Trước đây vào khoảng năm 2018, Công ty có giao dịch mua bán với ông S3 tổng cộng 06 nền tại khu dân cư chợ A1 (xã A, huyện C, tỉnh An Giang) thuộc dự án của Công ty. Một thời gian sau, theo sự quản lý của Công ty biết thì ông S3 đã chuyển nhượng 06 nền nêu trên cho bên thứ ba từ giữa năm 2020 đến nay, phía Công ty đã chấm dứt quan hệ làm ăn mua bán đất với ông S3 trong mọi lĩnh vực. Mặt khác, ông S3 cũng không có góp vốn hay đặt cọc vào dự án khu dân cư chợ A1 hay bất kỳ dự án nào khác với Công ty B1.
3.5 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H8 trình bày:
Ông là anh ruột của ông H6, khi ông S3 mất có để lại một xe ô tô khách 16 chỗ ngồi hiệu FORD biển số 67B - 012.30. Do gia đình gặp bất tiện trong việc nơi giữ xe, nên ông đã đem chiếc xe đi gửi ở bãi giữ xe T2 (địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ) do ông Nguyễn Bá T2 làm chủ; bắt đầu gửi xe từ tháng 07 năm 2022 đến nay với phí là 600.000 đồng/tháng, ông là người trả chi phí này cho ông T2 xong, ông không tranh chấp số tiền đã trả cho việc gửi xe trong vụ án này.
3.6 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá T2 trình bày:
Ông là chủ bãi giữ xe T2, nơi đã giữ xe ô tô khách 16 chỗ ngồi hiệu FORD biển số 67B - 012.30 từ tháng 07 năm 2022 cho đến nay, ông đã nhận đầy đủ chi phí giữ xe do ông S2 là 600.000 đồng/tháng giao trả cho ông xong, không tranh chấp gì trong vụ án này.
3.7 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan S5 do ông Chu Toàn T3 đại diện trình bày:
Ông H6 đang có số dư tài khoản tại S5 tạm tính đến ngày 04 tháng 7 năm 2023 là 222.615.976 đồng, chi tiết gồm (Tài khoản 070037823285: 4.892.263 đồng; Tài khoản 070115434101: 1.440 đồng; Tài khoản 070122661431: 217.722.273 đồng), Ngân hàng S5 sẽ thực hiện chi trả cho người thừa kế hợp pháp của ông S3 căn cứ theo Bản án, Quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên, xin vắng mặt khi xét xử vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 142/2023/DS-ST ngày 13/7/2023; Quyết định sửa chữa bổ sung Bản án số: 68/2023/QĐ-SCBSBAQĐ ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 244, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 234, 328, 612, 613, 615, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Xác định những người thuộc hàng thừa kế của ông Hà Trường Hy Phú S3 (chết ngày 14/5/2022) gồm có: ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Quang Thanh L đối với việc chia di sản thừa kế của ông H6 là xe ô tô 16 chỗ ngồi, nhãn hiệu FORD, biển số 67B - 012.30 và số tiền trong tài khoản của ông H6 tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 – Chi nhánh A.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Ôn Thị Ngọc C1 về việc trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ, bà Ôn Thị Ngọc C1 về việc:
- - Xác định di sản thừa kế của ông H6 là 01 (một) xe ô tô khách 16 chỗ ngồi biển số 67B-012.30, nhãn hiệu FORD, số loại: TRANSIT; số máy: G4P11337DURATORQ4D243H, số khung: RL3MLTGMCGCR43430; có giá trị 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
- - Bà Đinh Thị H được quyền sở hữu 01 (một) xe ô tô khách 16 chỗ ngồi biển số 67B-012.30, nhãn hiệu FORD, số loại: TRANSIT; số máy: G4P11337DURATORQ4D243H, số khung: RL3MLTGMCGCR43430.
- - Bà Đinh Thị H liên hệ với ông H8 và ông Nguyễn Bá T2 để được nhận bàn giao xe mô tô khách biển số 67B-012.30 này.
- - Ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, ông Hà Văn Đ mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng); nên bà Đinh Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, ông Hà Văn Đ mỗi người 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
- - Bà Đinh Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Ôn Thị Ngọc C1 số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- - Ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và hoàn thành thủ tục sang tên, chuyển quyền sở hữu xe ô tô.
- Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ về việc:
- - Xác định di sản thừa kế của ông H6 là số tiền trong các tài khoản do ông H6 là chủ tài khoản mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 – Chi nhánh A tính đến ngày 12 tháng 7 năm 2023 gồm: 4.892.263 đồng (bốn triệu tám trăm chín mươi hai nghìn hai trăm sáu mươi ba đồng) trong tài khoản số [...]; 1.440 đồng (một nghìn bốn trăm bốn mươi đồng) trong tài khoản số [...]; số tiền 217.722.273 đồng (hai trăm mười bảy triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng) trong tài khoản số [...]. Tổng cộng: 222.615.976 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu sáu trăm mười lăm nghìn chín trăm bảy mươi sáu đồng).
- - Ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế là: 55.653.994 đồng (năm mươi năm triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn chín trăm chín mươi bốn đồng) tạm tính đến ngày 12 tháng 7 năm 2023, từ các tài khoản số [...]; số [...]; số [...] mang tên chủ tài khoản Hà Trường Hy P, tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 – Chi nhánh A.
- - Kể từ ngày 12 tháng 7 năm 2023 ông Hà Quang T, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ tiếp tục được nhận tiền lãi phát sinh tính trên kỷ phần mỗi ông bà được phân chia theo mức lãi suất do Ngân hàng thương mại cổ phần S4 quy định, cho đến khi chấm dứt việc gửi tiền.
- - Ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1, bà Đinh Thị H, ông Hà Văn Đ có nghĩa vụ đến Ngân hàng thương mại cổ phần S4 để thực hiện và hoàn thành các thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với số tiền được nhận.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Quang Thanh L về việc chia di sản thừa kế của ông H6 đối với các tài sản gồm:
- 6.1. Quyền sử dụng thửa đất có diện tích 117,1m², thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 53, tọa lạc tại số A đường C, tổ F, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH05867 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 22/7/2015 cho ông Hà T4 H6 và căn nhà cấp 4, diện tích 90m² gắn liền với thửa đất.
- 6.2. Quyền sử dụng 03 (ba) nền đất tọa lạc tại dự án chợ A1, thuộc xã A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Hà Quang Thanh L về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của ông H6 là: 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-201.97, nhãn hiệu HONDA và 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-010.17, nhãn hiệu HONDA.
- Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 7.000.000 đồng do ông Hà Quang Thanh L đã tạm ứng chi trả.
- - Ông Hà Quang Thanh L phải chịu chi phí tố tụng là 1.750.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp (đã nộp xong).
- - Bà Hà Thị Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho ông Hà Q Thanh Long số tiền 1.750.000 đồng.
- - Bà Đinh Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Hà Q Thanh Long số tiền 1.750.000 đồng.
- - Ông Hà Văn Đ có nghĩa vụ trả cho ông Hà Q Thanh Long số tiền 1.750.000 đồng.
- Về án phí:
- - Bà Đinh Thị H2 ông Hà Văn Đ được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Hà Quang Thanh L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 6.832.700 đồng.
- - Bà Hà Thị Thanh T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 6.532.700 đồng.
- Về án phí phúc thẩm:
- Ông Hà Quang Thanh L, bà Hà Thị Thanh T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nên được nhận lại 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do các đương sự đã nộp theo các biên lai thu số 0002107 ngày 07/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 294/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 294/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Hà Quang Thanh L BĐ: Đinh Thị H; Hà Văn Đ
