Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 294/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
  2. Bà Vương Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 298/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Huy H, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số D tổ A, ấp E, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hoàng T, sinh năm 1951 và bà Hồ Thị K (đã chết); có 02 anh, chị ruột, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1981; vợ tên Trần Ngọc T1, sinh năm 1987; có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/4/2023, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1963; thường trú: Số A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1987; thường trú: Số D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Đặng Quốc T3, sinh năm 1971. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Đặng Quốc H1, sinh năm 1936 thường trú: Số H, đường E, khu phố A, phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh được Công ty TNHH T6 cấp đền bù đất Công ty C vào ngày 07/10/2003 (Biên nhận số 142 ngày 07/10/2003). Ngày 20/9/2010, ông H1 được Công ty TNHH P bàn giao đất tái định cư trong Khu dân cư T, phường T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương (đền bù đất tái định cư) số lô NL 06 ô 22, 23, 24 và NL 11 ô 15 nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông H1 chuyển nhượng phần đất tái định cư trong Khu dân cư T B cho ông Phan Xuân H2 (thông qua hình thức giấy ủy quyền). Đến khoảng tháng 01/2017, ông H2 sang nhượng 03 lô đất (số lô NL 06 ô 22, 23, 24) cho ông Nguyễn Văn N (chỉ làm giấy tờ mua bán viết tay, một biên bản giao nhận đất và một giấy ủy quyền từ ông H1 sang ông H2).

Năm 2021, ông Nguyễn Văn N quen biết với Hoàng Huy H và biết H làm môi giới bất động sản, đồng thời nhận làm các giấy tờ nhà, đất. Lúc này, ông N kể cho H nghe về 03 lô đất của ông N và nhờ H đứng ra làm giúp Giấy chứng nhận quyền sử dụng để tránh tranh chấp và dễ sang nhượng khi có nhu cầu. Ông N nói với H sẽ chi trả các chi phí để được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N đưa cho H biên bản bàn giao đất, một giấy ủy quyền. Trong thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 9 năm 2022, ông N đã 05 lần đưa tiền cho H với tổng số tiền 300.000.000 đồng để H xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N. Trong đó, ông N giao số tiền 50.000.000 đồng cho H vào tháng 11 năm 2021, lần thứ hai giao 70.000.000 đồng vào tháng 3 năm 2022, lần thứ ba giao 60.000.000 đồng, lần thứ tư giao 60.000.000 đồng và lần thứ 5 giao 60.000.000 đồng vào tháng 8 năm 2022.

Cũng trong thời gian tháng 11 năm 2021, Hoàng Huy H liên hệ với chị Nguyễn Thị Thu T2 là bạn của vợ H hiện là viên chức thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố D. H nhờ chị T2 hướng dẫn, hỗ trợ và làm giúp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N. Sau đó, chị T2 đã liên hệ với ông H2 để ký các giấy tờ liên quan nhưng chưa đủ thủ tục hồ sơ, sau đó phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường T. Tháng 8 năm 2022, H đưa cho chị T2 100.000.000 đồng. Tháng 9 năm 2022, H tiếp tục đưa cho chị T2 26.000.000 đồng, tổng cộng H đã đưa cho chị T2 là 126.000.000 đồng. Chị T2 đã sử dụng số tiền này để liên hệ với Phòng công chứng đóng thuế công chứng, đóng thuế đất và các chi phí khác hết tổng cộng số tiền 103.000.000 đồng.

Trong quá trình liên hệ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N thì phát hiện ông Đặng Quốc H1 (chủ đất) đã chết, ông H1 có vợ là bà Nguyễn Thị T4 và 02 con Đặng Quốc V và Đặng Quốc T3, riêng anh V đang định cư tại nước Cộng hòa liên bang Đ. Do vậy, H1 đã đưa cho ông Đặng Quốc T3 155.000.000 đồng để lo chi phí cho ông Đặng Quốc V từ Đ về Việt Nam ký giấy tờ liên quan.

Trong tháng 5 năm 2022, Hoàng Huy H đã lên mạng xã hội đặt nhờ người làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N mục đích để ông N yên tâm trong khi chờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật. Sau đó, H sử dụng máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire E1-470, màu xám đen và lên mạng Internet gõ tìm kiếm “Làm giấy tờ hồ sơ giả”. Cùng lúc, H nhắn tin trao đổi với người đàn ông (không rõ nhân thân) trên mạng rồi cung cấp thông tin của ông N và thông tin biên bản giao nhận đất, đồng thời hai bên đã thỏa thuận làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với số tiền 20.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày sau, có một người thanh niên (không rõ nhân thân) liên hệ với H và hẹn gặp tại đường M - T thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để giao nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. H đưa số tiền 20.000.000 đồng cho người thanh niên này và nhận 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ký hiệu BY901009, BY340615, BY340991. Sau đó, H đến chùa N1 gặp ông N và đưa 03 Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất nói trên cho ông N, khi đưa H nói với ông N cất, chờ đến cuối năm có đợt công chứng giấy tờ nữa mới được bán đất mục đích nói vậy là để khi nào có giấy chứng quyền sử dụng đất thật thì đưa lại cho ông N. Ngày 22/12/2022, ông N mang 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY901009, BY340615, BY340991 đến Ủy ban nhân dân thành phố D để trích lục. Quá trình kiểm tra, Ủy ban nhân dân thành phố D nhận thấy 03 (ba) giấy chứng nhận trên của ông N không phải do Cơ quan có thẩm quyền cấp nên đã báo cho Công an phường D. Cùng ngày, Công an phường D, thành phố D đã tiếp nhận vụ việc và mời ông N đến Công an phường để làm việc và thu giữ: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 6556, tờ bản đồ số 5, số phát hành BY901009, số vào sổ cấp GCN: CH10012 tên Nguyễn Văn N; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 6556, tờ bản đồ số 5, số phát hành BY340615, số vào sổ cấp GCN: CH30015 tên Nguyễn Văn N và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất số 6556, tờ bản đồ số 5, số phát hành BY340991, số vào sổ cấp GCN: CH50146 tên Nguyễn Văn N.

Ngày 31/12/2022, Hoàng Huy H đến Công an thành phố D đầu thú và thu giữ 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ACER Aspire E1-470 màu xám đen.

* Tại Kết luận giám định số 63 ngày 16/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Ba (03) “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BY901009, BY340991, BY340615 cùng tên Nguyễn Văn N, sinh năm 1963, CCCD số [...], địa chỉ thường trú số A khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cùng đề ngày 16/5/2021 (kí hiệu từ A1 đến A) là giả.

Phôi các tài liệu cần giám định (kí hiệu từ A1 đến A3) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Chữ ký mang tên “Võ Anh T5” và hình dấu tròn có nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN T.BÌNH DƯƠNG” trên các tài liệu cần

giám định (kí hiệu từ A1 đến A3) so với chữ ký của Võ Anh T5 và hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (kí hiệu M1 và M2) không phải do một người ký và con dấu đóng ra.

Đối với Nguyễn Thị Thu T2 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N giúp Hoàng Huy H, mặc dù có lấy tiền công 23.000.000 đồng nhưng theo Công văn số 4351/CNVPĐKĐĐ-LT ngày 26/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D xác định việc chi nhánh cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCN) cho ông Nguyễn Văn N gồm: GCN có số phát hành DK709152, vào số cấp GCN: CS33156; thửa đất số: 7351, tờ bản đồ số 5; GCN có số phát hành DK709153, vào số cấp GCN: CS33157; thửa đất số: 7352, tờ bản đồ số: 5; GCN có số phát hành DK709154, vào sổ cấp GCN: CS33158; thửa đất số: 7353, tờ bản đồ số: 5 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 650, quyển số 03/2023_TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 15/03/2023 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Việc cấp giấy chứng nhận là đúng quy định của pháp luật, không đủ căn cứ để xác định Nguyễn Thị Thu T2 có hành vi trái pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.

Ngày 05/4/2023, Hoàng Huy H cùng với ông Nguyễn Văn N đã hoàn thành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông Nguyễn Văn N đã nhận 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK709152, vào số cấp GCN: CS33156; thửa đất số: 7351, tờ bản đồ số: 5; địa chỉ: Khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; diện tích: 100m²; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất DK709153, vào sổ cấp GCN: CS33157; thửa đất số: 7352, tờ bản đồ số: 5; địa chỉ: Khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; diện tích: 100m²; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất DK709154, vào sổ cấp GCN: CS33158; thửa đất số: 7353, tờ bản đồ số: 5; địa chỉ: khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; diện tích: 100m². Quá trình tố tụng, xác định Hoàng Huy H không có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt đối với số tiền 300.000.000 đồng của ông N. Đồng thời, ông Nguyễn Văn N sau khi nhận các Giấy chứng nhận do Cơ quan có thẩm quyền cấp thì không có yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm dân sự không xem xét.

* Về xử lý vật chứng:

Đối với máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ACER Aspire E1-470 màu xám đen, Hoàng Huy H sử dụng để cung cấp thông tin làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY901009, BY340991, BY340615 ngày 16/5/2021 cùng mang tên Nguyễn Văn N là giấy tờ giả được lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với người đàn ông không rõ nhân thân làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Hoàng Huy H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Văn N không biết Hoàng Huy H làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã mang đi trích lục để kiểm tra, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.

Bản Cáo trạng số 152/CT-VKS-DA ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoàng Huy H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An rút một phần truy tố bị cáo Hoàng Huy H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và phát biểu quan điểm luận tội, đánh giá các tình tiết liên quan đến nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Huy H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ACER Aspire E1-470 màu xám đen.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để có thời gian chăm sóc cho gia đình và tu dưỡng bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản đầu thú và các tài

liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Tháng 5 năm 2022, Hoàng Huy H sử dụng máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire E1-470, màu xám đen liên hệ với 01 người đàn ông (không rõ nhân thân) trên mạng và cung cấp thông tin cá nhân, thông tin về thửa đất của ông Nguyễn Văn N để làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ký hiệu BY901009, BY340615, BY340991 với giá 20.000.000 đồng. Sau đó, H đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông N và ông N cất, đến ngày 22/12/2022, ông N mang 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đến Ủy ban nhân dân thành phố D để trích lục hồ sơ thì phát hiện là giả. Mục đích bị cáo đặt nhờ người khác làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là để ông N yên tâm trong khi chờ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật, đồng thời khi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho ông N, bị cáo nói với ông Nghĩa là cất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cuối năm 2022 có đợt ký giấy tờ nữa rồi hãy chuyển nhượng thửa đất cho người khác, việc bị cáo nói với ông N như vậy là để bảo đảm về thời gian cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật cho ông N. Như vậy, hành vi cung cấp thông tin, đặt thuê người khác làm giả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo Hoàng Huy H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An rút một phần truy tố đối với bị cáo Hoàng Huy H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo Hoàng Huy H có hành vi cung cấp thông tin để nhờ một người đàn ông trên mạng không xác định được nhân thân để làm giả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mục đích bị cáo nhờ người khác làm giả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là để đưa cho ông N không sốt ruột vì thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật lâu. Do đó, việc rút một phần truy tố của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xét xử.

Bản Cáo trạng số 152/CT-VKS-DA ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kểm sát nhân dân thành phố D và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị kết luận bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội, trật tự quản lý hành chính. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy

định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có cha bị bệnh nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[7] Về hình phạt:

+ Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; quá trình tố tụng ông N xác định hành vi của bị cáo không gây ra thiệt hại gì cho ông N, đồng thời ông N cũng không yêu cầu gì, trong thời gian được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Hội đồng xét xử áp dụng để cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú, cũng không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án đối với bị cáo.

+ Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

  • - Xét 01 máy tính xách tay hiệu ACER Aspire E1-470 màu xám đen, là tài sản của bị cáo Hoàng Huy H, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
  • - Xét 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY901009, BY340991, BY340615 ngày 16/5/2021 đều mang tên Nguyễn Văn N là giấy tờ giả cần được lưu trong hồ sơ vụ án.

[9] Quá trình nhờ H làm giấy tờ nhà đất ông N có hỏi H về việc làm giấy chứng nhận nhưng không có lời lẽ hối thúc H; khi nhờ H làm giấy tờ đất, ông N có hứa khi nào bán được đất sẽ trả công cho H nhưng không nói cụ thể là bao nhiêu và H cũng không yêu cầu được trả công. Đối với số tiền 300.000.000 đồng ông N đã đưa cho H làm nhiều đợt và đó là tiền chi phí cho việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi biết được 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H đưa cho là giả, ông N đã yêu cầu H đưa lại các giấy tờ để ông liên hệ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D, khi đó ông cũng

được biết hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận của ông đã nộp và đang trong giai đoạn xử lý để cấp sổ. Hiện nay, ông N đã nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất trên do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D cấp và không có yêu cầu gì khác. Hoàng Huy H không có hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của ông N, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là phù hợp.

[10] Đối với Nguyễn Thị Thu T2 giúp Hoàng Huy H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N, mặc dù có lấy tiền công 23.000.000 đồng nhưng theo Công văn số 4351/CNVPĐKĐĐ-LT ngày 26/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D xác định việc chi nhánh cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCN) cho ông Nguyễn Văn N gồm: GCN có số phát hành DK709152, vào số cấp GCN: CS33156; thửa đất số: 7351, tờ bản đồ số 5; GCN có số phát hành DK709153, vào số cấp GCN: CS33157; thửa đất số: 7352, tờ bản đồ số: 5; GCN có số phát hành DK709154, vào sổ cấp GCN: CS33158; thửa đất số: 7353, tờ bản đồ số: 5 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 650, quyền số 03/2023_TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 15/03/2023 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định nên không đủ căn cứ để xác định Nguyễn Thị Thu T2 có hành vi trái pháp luật, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là phù hợp.

[11] Quá trình tố tụng, cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh tại Công ty TNHH T7, Văn phòng C2, Ủy ban nhân dân phường T về việc Nguyễn Thị Thu T2 có hành vi đưa hối lộ khi nhờ làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không. Tuy nhiên, căn cứ vào văn bản trả lời của Công ty TNHH T7, Văn phòng C2, Ủy ban nhân dân phường T đã xác định các thủ tục giấy tờ do T2 nộp đều được nhận và xử lý theo quy định của pháp luật, không nhận vụ lợi. Do đó, không có căn cứ để xem xét hành vi đưa, nhận hối lộ.

[12] Đối với người đàn ông không rõ nhân thân làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Hoàng Huy H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[13] Đối với ông Nguyễn Văn N không biết Hoàng Huy H làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã mang đi trích lục để kiểm tra, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.

[14] Mức hình phạt, xử lý vật chứng như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[15] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Huy H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Hoàng Huy H 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Huy H cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo Hoàng Huy H.

2. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 máy tính xách tay hiệu ACER Aspire E1-470 màu xám đen.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Huy H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh BD (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);
  • - Người tham gia tố tụng (02);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 294/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Huy H phạm tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger