|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 294/2024/HS-ST Ngày 26 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tống Thị Điệp và bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Ê Ban - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 270/2024/HSST, ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST-HS, ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phương T; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;
Sinh ngày 29 tháng 01 năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; cha: Nguyễn Đình T1, mẹ: Lê Thị Thanh T2; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 02; Tiền sự: Không;
Ngày 23/4/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 98/2019/HSST), ngày 23/7/2020, chấp hành xong hình phạt.
Ngày 26/8/2021 TAND thành phố Buôn Ma Thuột xét xử, xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo kháng cáo, ngày 02/11/2021, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 12/5/2023, chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/6/2024 cho đến nay – Có mặt
* Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T3
Địa chỉ: Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 02/6/2024, Nguyễn Phương T biết quán cà phê MOL của anh Nguyễn Thanh T3 tại Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (sát cạnh nhà bố mẹ T) không có ai nên T trèo qua hàng rào lưới B40 của quán C1 rồi vào trong quán tìm tài sản trộm cắp. Tây sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màn hình trắng đen (không rõ đời máy) mang theo bật đèn pin chiếu sáng tìm tài sản, khi đến quầy thu ngân Tây lấy 01 xấp tiền lẻ để trong thùng giấy. Tây tiếp tục tìm tài sản để lấy trộm nhưng không có tài sản nào có giá trị nên T đi ra ngoài sân của quán thì thấy chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển số 47R5 – 7983 của anh T3, trên ổ khoá điện của xe có cắm sẵn chìa khoá. Lúc này, T bấm cửa cuốn của quán lên rồi đẩy xe Mô tô trên ra ngoài đường và bấm khoá cửa quán lại, rồi T nổ máy xe Mô tô trộm cắp được rời đi. Trên đường đi, T lấy xấp tiền lẻ vừa trộm cắp được của anh T3 ra đếm thì thấy có nhiều tờ tiền với mệnh giá khác nhau, tổng số tiền là 200.000 đồng. Đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, T điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Ngọc T4 ở địa chỉ số A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk hỏi mượn anh T4 số tiền 3.000.000 đồng và để lại xe Mô tô biển số 47R5 – 7983 làm tin. Khoảng 10 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Đình T1 (là bố ruột của T) biết được sự việc anh T3 bị mất trộm tài sản và nghi ngờ T là người có liên quan đến vụ việc nên ông T1 đã gọi điện thoại cho T hỏi thì T thừa nhận là người đã trộm cắp tài sản của anh T3 và T cho biết chiếc xe Mô tô trộm cắp được của anh T3 đang để ở nhà của anh T4. Sau đó, ông T1 trả cho anh T3 số tiền 200.000 đồng mà T trộm cắp của anh T3 và đến gặp anh T4 trả lại số tiền 3.000.000 đồng mà T mượn của anh T4, rồi lấy xe Mô tô biển số 47R5 - 7983 đến giao nộp cho Công an xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, để xử lý.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐĐGTS, ngày 09/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe Mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: AirBlade, loại xe: Hai bánh từ 50 – 175cm³; số máy: JF27E0360766, số khung: RLHJF1804AY316307, màu: Đen, dung tích xi lanh: 108cm³, biển số 47R5 – 7983, Đăng ký lần đầu ngày 25/11/2010, tài sản đã qua sử dụng, tài sản thu hồi được, trị giá: 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 278/CT-VKS-BMT, ngày 10/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Phương T, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b,h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video trích xuất từ C tại quán cà phê MOL của anh Nguyễn Thanh T3, ghi nhận lại toàn bộ hành vi trộm cắp của bị cáo Nguyễn Phương T vào ngày 02/6/2024, chuyển theo hồ sơ vụ án để đảm bảo công tác xét xử là phù hợp.
Đối với chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, số máy JF27E0360766, số khung RLHJF1804AY316307, màu đen, biển số 47R5 – 7983 mà Cơ quan điều tra tạm giữ. Qua điều tra xác định xe Mô tô trên là tài sản của anh Nguyễn Thanh T3, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3 là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màn hình trắng đen (không rõ đơi máy) mà bị cáo Nguyễn Phương T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình sử dụng, bị cáo T đã làm mất chiếc điện thoại di động trên nên Cơ quan điều tra không thu giữ được để xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 01 giờ 10 phút ngày 02/6/2024, bị cáo Nguyễn Phương T đã trèo vào quán C1, địa chỉ Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và lén lút lấy trộm cắp 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, số máy JF27E0360766, số khung RLHJF1804AY316307, màu đen, biển số 47R5 – 7983 trị giá 11.000.000đồng và số tiền 200.000 đồng của anh Nguyễn Thanh T3 thì bị phát hiện xử lý. Tại Bản án số 256/2021/HS-PT ngày 02/11/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã bị xác định tái phạm nguy hiểm nhưng chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phương T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ Luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: ...
g) Tái phạm nguy hiểm..."
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức để biết được rằng tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trộm cắp tài sản sẽ bị pháp luật trừng trị. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong bản án bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục trộm cắp tài sản. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi của bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và đã khắc phục thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b,h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Với tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video trích xuất từ C tại quán cà phê MOL của anh Nguyễn Thanh T3, ghi nhận lại toàn bộ hành vi trộm cắp của bị can Nguyễn Phương T vào ngày 02/6/2024, tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, số máy JF27E0360766, số khung RLHJF1804AY316307, màu đen, biển số 47R5 – 7983 mà Cơ quan điều tra tạm giữ. Qua điều tra xác định xe Mô tô trên là tài sản của anh Nguyễn Thanh T3, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3 là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màn hình trắng đen (không rõ đơi máy) mà bị cáo Nguyễn Phương T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình sử dụng, bị cáo T đã làm mất chiếc điện thoại di động trên nên Cơ quan điều tra không thu giữ được để xử lý.
[5] Về hành vi khác:
Đối với anh Nguyễn Ngọc T4 cho bị cáo Nguyễn Phương T mượn số tiền 3.000.000 đồng và bị cáo T để lại xe Mô tô biển số 47R5 – 7983 cho anh T4 để làm tin. Tuy nhiên, anh T4 không biết chiếc xe Mô tô trên do bị cáo T trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T4 là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Nguyễn Phương T, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo Nguyễn Phương T, qua điều tra đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Nên, Cơ quan điều tra tách ra khỏi vụ án để xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phương T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ Luật Hình sự.
-
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phương T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T 03 năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 04/6/2024.
-
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, số máy JF27E0360766, số khung RLHJF1804AY316307, màu đen, biển số 47R5 – 7983 cho anh Nguyễn Thanh T3.
Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video trích xuất từ C tại quán cà phê MOL của anh Nguyễn Thanh T3, ghi nhận lại toàn bộ hành vi trộm cắp của bị can Nguyễn Phương T vào ngày 02/6/2024.
-
Về hành vi khác:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Nguyễn Ngọc T4 cho bị cáo Nguyễn Phương T mượn số tiền 3.000.000 đồng và bị cáo T để lại xe Mô tô biển số 47R5 – 7983 cho anh T4 để làm tin.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Nguyễn Phương T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Phương T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 294/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phương Tây phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Tây 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 04/6/2024.
