|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 294/2024/HS-ST
Ngày 21 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Quý
- 2. Bà Hoàng Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên
Ngày 21/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 319/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Bàn Phúc Đ - Sinh năm 1999 tại Bắc Kạn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Kim T và bà: Triệu Thị K; vợ: chưa; tiền sự: không; tiền án: Ngày 23/09/2021, bị TAND TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 13/05/2022; Ngày 15/09/2022, bị TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 19/10/2023; bị bắt tạm giữ ngày 30/3/2024 đến ngày 05/4/2024 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh V – Trợ giúp viên; Công tác tại: Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.
Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị hại:
- + Ban quản lý di tích danh thắng phường T, thành phố T.
Người đại diện hợp pháp: Bà Dương Thị X – Sinh năm 1965(vắng)
Trú tại: phố I, phường T, thành phố T.
- + Ban quản lý đình làng C, phường T, thành phố T.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Đăng K1 – Sinh năm 1962(vắng)
Trú tại: phố D, phường T, thành phố T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mục đích chiếm đoạt tài sản nên ngày 26/3/2024 Bàn Phúc Đ một mình đi bộ quanh địa bàn phường T, phường T, thành phố T để trộm cắp. Bàn Phúc Đ đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00h00' ngày 26/03/2024, Đ đi bộ đến đền H, địa chỉ phố H, phường T, thành phố T, trèo qua bờ tường vào trong. Đ nhặt 01 chiếc cuốc chim tại cửa bếp trước sân đền và dùng cuốc đập vỡ ô cửa bằng bê tông rồi chui vào trong và cúp cầu dao điện. Tiếp đó, Đại lục soát phát hiện 02 két kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp đặt 2 bên bàn thờ nên xô đổ xuống nền nhà và dùng cuốc chim cậy phá nhưng không được nên ra ngoài tìm được 01 chiếc cuốc dạng cuốc vét vào cậy phá được mặt trước két. Thấy bên trong mỗi két có nhiều tờ tiền mệnh giá từ 1.000đ đến 20.000đ, Đ dùng tay lấy đi tất cả tờ tiền có mệnh giá từ 10.000đ trở lên được 300.000đ rồi cầm tiền chiếc cuốc chim tiếp tục đi tìm đền C chiếm đoạt tài sản.
Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐ ĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá UBND thành phố T kết luận:
- - 01 Ô cửa bằng bê tông, cốt thép, hình chữ Thọ trung, đường kính 60cm có trị giá 400.000 đồng;
- - 01 Két bằng kim loại, nhãn hiệu Việt Tiệp, kích thước (91,5x52x37)cm có trị giá 1.260.000 đồng;
- - 01 Két bằng kim loại, nhãn hiệu Việt Tiệp, kích thước (73,5x48,5x33,5)cm có trị giá 1.120.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị hủy hoại là 2.780.000 đồng.
Đại diện theo ủy quyền của Ban quản lý di tích và danh thắng phường T, bà Dương Thị X khai báo 02 chiếc két bà mua năm 2021 giá 3.300.000 đồng, hiện đã hư hỏng hoàn toàn. Đối với cửa sổ bị đập vỡ, bà thuê thợ thay mới, tiền công thay là 300.000 đồng.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường lại giá trị tài sản bị thiệt hại và số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường đối với chiếc cuốc bị Đ lấy đi.
Thu giữ 01 chiếc cuốc có cán bằng thân tre dài 110cm, lưỡi cuốc bằng kim loại, phần rộng nhất 30cm tại trước cửa bếp sân trước đền H là công cụ Đ sử dụng để cậy phá cửa sổ đền.
Vụ thứ hai: Sau khi rời đền H, Đ đi bộ sang khu vực đình làng C, thuộc phố D, phường T, thành phố T dùng thủ đoạn tương tự phá cửa sổ đình mặt trước bên trái đình (theo hướng từ cổng vào) rồi đột nhập vào trong cậy phá 2 két kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp loại K60 và K40, kích thước lần lượt là (83 x 51,5 x 36,5)cm và (83 x 51,5 x 36,5)cm lấy đi số tiền 1.300.000 đồng mệnh giá từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Lấy được tiền, Đ vứt chiếc cuốc chim trên đoạn đường đê thuộc Phố D, phường T, thành phố T, sau đó bắt xe khách đi đến tỉnh Nghệ An ăn tiêu hết số tiền lấy được (Bút lục số 123, 128-131, 151-163).
Bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐ ĐGTS ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá UBND thành phố T kết luận:
- - 01 két bằng kim loại, nhãn hiệu Việt Tiệp K60, kích thước (83x51,5x36,5)cm có trị giá 2.744.000 đồng;
- - 01 két bằng kim loại, nhãn hiệu Việt Tiệp K40, kích thước (83x51,5x36,5)cm có trị giá 675.000 đồng;
- - 01 Ô cửa bằng bê tông, cốt thép, hình chữ T1 đại, đường kính 80cm có trị giá 675.000 đồng;
Tổng trị giá tài sản bị hủy hoại là 4.094.000 đồng.
Đại diện hợp pháp của Ban Q, ông Nguyễn Đăng K1 khai báo 02 chiếc két ông mua tháng 6 năm 2023 giá 4.150.000 đồng, hiện đã hư hỏng hoàn toàn. Đối với cửa sổ bị đập vỡ, ông mua cửa sổ mới 850.000 đồng, thuê thợ thay mới, tiền công thay là 300.000 đồng.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu bồi thường lại giá trị tài sản bị thiệt hại và số tiền bị chiếm đoạt.
01 chiếc cuốc có cán bằng thân tre dài 110cm, lưỡi cuốc bằng kim loại, phần rộng nhất 30cm chuyển đến chi cục Thi hành án để xử lý theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, Bàn Phúc Đ đã đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập được. Đối với tội “Hủy hoại tài sản” bị can đã tái phạm chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đối với tội “Trộm cắp tài sản”, tổng giá trị bị can chiếm đoạt không
đủ định lượng để cấu thành khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích mà còn tiếp tục vi phạm.
Tại bản cáo trạng số: 209/CT - VKSTPTH ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Bàn Phúc Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS và tội huỷ hoại tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo từ 09 – 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; từ 27 – 33 tháng tù về tội huỷ hoại tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai tội từ 36 – 45 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải bồi thường dân sự cho các bị hại; đề nghị miễn khoản tiền án phí sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh điều luật VKS truy tố là đúng. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải, nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất và miễn khoản tiền án phí cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội không bổ sung ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người thiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Do có mục đích chiếm đoạt từ trước, khoảng 00h00' ngày 26/03/2024, tại đền H ở Phố H, P.T, TP . và đình làng C ở Phố D, phường T, TP ., Bàn Phúc Đ đã thực hiện hành vi phá 02 cửa sổ và 04 két công đức để lấy tiền bên trong, tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 6.874.000 đồng. Số tiền bị cáo đã chiếm đoạt trong 04 két công đức là 1.600.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết
luận: Hành vi nêu trên của Bàn Phúc Đ có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Huỷ hoại tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 BLHS như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã dùng quốc bằng kim loại phá cửa các đình làng, phá huỷ các két sắt công đức lén lút chiếm đoạt tài sản một cách nhanh nhất rồi mang đi tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản (mỗi lần từ trên 2.000.000 đồng), nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo coi thường pháp luật, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
Bị cáo phạm nhiều tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 55 BLHS, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với từng hành vi phạm tội sau đó tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của bản án là phù hợp.
Quá trình điều tra, Bàn Phúc Đ khai nhận có hành vi hủy hoại 03 két sắt tại chùa T2, xã C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để trộm cắp 3.200.000 đồng. Vụ việc đang được Cơ quan CSĐT Công an huyện C xác minh, điều tra theo thẩm quyền.
[4] Về phần dân sự:
- Theo báo cáo của đại diện hợp pháp bị hại bà Dương Thị X 02 chiếc két bà mua năm 2021 giá 3.300.000 đồng, hiện đã hư hỏng hoàn toàn, cửa sổ bị đập vỡ, bà thuê thợ thay mới, tiền công thay là 300.000 đồng; số tiền bị cáo trộm cắp là 300.000 đồng. Nên bà yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền trên. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ, tuy nhiên theo kết quả định giá tài sản thiệt hại 02 két sắt là 2.780.000 đồng. Do đó yêu cầu bồi thường giá trị thiệt hại 3.300.000 đồng mà bị hại đưa ra là không có căn cứ chấp nhận, mà chỉ chấp nhận thiệt hại theo kết quả định giá số tiền
2.780.000 đồng là phù hợp. Đối với số tiền công thay là 300.000 đồng; số tiền bị cáo trộm cắp là 300.000 đồng là những chi phí hợp lý, thiệt hại thực tế nên chấp nhận và buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho Ban quản lý di tích danh thắng phường T, thành phố T tổng số tiền là: 3.380.000 đồng.
- Theo báo cáo của đại diện hợp pháp bị hại ông Nguyễn Đăng K1 02 chiếc két ông mua tháng 6 năm 2023 giá 4.150.000 đồng, cửa sổ bị đập vỡ, ông mua cửa sổ mới 850.000 đồng, thuê thợ thay mới, tiền công thay là 300.000 đồng. Nên ông yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền trên. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ, tuy nhiên theo kết quả định giá tài sản thiệt hại là 4.094.000 đồng (gồm 02 két sắt, cửa sổ). Do đó yêu cầu bồi thường giá trị thiệt hại 5.000.000 đồng mà bị hại đưa ra là không có căn cứ chấp nhận, mà chỉ chấp nhận thiệt hại theo kết quả định giá số tiền 4.094.000 đồng là phù hợp. Đối với số tiền công sửa chữa 300.000 đồng; số tiền bị cáo trộm cắp 1. 300.000 đồng là những chi phí hợp lý, thiệt hại thực tế nên chấp nhận và buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho Ban quản lý đình làng C, phường T, thành phố T tổng số tiền là: 5.694.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc cuốc có cán bằng thân tre dài 110cm, lưỡi cuốc bằng kim loại, phần rộng nhất 30cm là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị nên căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Do đó căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn khoản tiền án phí sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 BLHS; Điều 584; Điều 589 BLDS; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Bàn Phúc Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Huỷ hoại tài sản”.
Xử phạt: Bàn Phúc Đại 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2024.
Về dân sự:
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho Ban Q thuộc thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 5.694.000 đồng.
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho Ban H thuộc phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 3.380.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc quốc, cán bằng thân tre hình trụ tròn, chiều dài 110 cm, đường kính 03 cm, bản lưỡi bằng kim loại cũ gỉ.
Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 164/2024/THA ngày 12/6/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Án phí: Miễn khoản tiền án phí sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hào |
Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản và huỷ hoại tài sản
- Số bản án: 294/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản và Huỷ hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội Trộm cắp tài sản
