|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 294/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 283/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1046/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh H, sinh ngày 29 tháng 06 năm 1966 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T (đều đã chết); có vợ là Dương Mai V và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 14/2020/HS-ST ngày 20/01/2020, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá); bị tạm giữ ngày 15/4/2024; tạm giam ngày 24/4/2024; có mặt.
2. Nguyễn T1, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số D T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Nguyễn Thị C và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 04/06/2024; tạm giam ngày 12/06/2024; có mặt.
3. Phạm Thị Thanh H2, sinh ngày 27 tháng 06 năm 1989 tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: số B H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số H T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Chí D và bà Lê Thị Kim B; có chồng là Nguyễn Quang A (đã chết) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/04/2024; tạm giam ngày 24/04/2024; có mặt.
4. Nguyễn Thị H3, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số E N, T, phường Đ. quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 và bà Nguyễn Thị Thu H4; có chồng là Trần Ngọc D1 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Tại Bản án số 14/2021/HS-ST ngày 28/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2023 và nộp án phí ngày 24/12/2021 (chưa được xóa án tích), tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 02/2012/HSST ngày 13/01/2012, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 36 tháng tù (đã được xoá); tạm giữ ngày 15/04/2024; tạm giam ngày 24/04/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 14/4/2024, Nguyễn Thanh H liên lạc với Nguyễn T1 để mua 700.000 ma túy đá về sử dụng. T1 đồng ý và hẹn H ra khu vực đầu ngõ 19 Chùa Hàng, quận L, Hải Phòng để giao dịch. Sau đó, T1 đến khu vực đường T, quận L gặp và mua 01 gam ma túy đá với giá 500.000 đồng của một nam giới (không rõ lai lịch địa chỉ) cầm đến chỗ hẹn gặp H. T1 đưa cho H 01 gói giấy bạc chứa số ma túy đá vừa mua được, H hẹn T1 sẽ trả tiền vào ngày hôm sau. H mang gói ma túy trên đi đến khu vực cổng Chùa Hàng, lấy ra một ít sử dụng, số còn lại H chia nhỏ ra làm 04 túi nilon (02 túi được bọc giấy bạc màu vàng trắng) cho vào lọ thủy tinh cất vào túi xách màu nâu rồi về nhà.
Khoảng 08 giờ ngày 15/4/2024, Phạm Thị Thanh H2 rủ H và Nguyễn Thị H3 đến phòng trọ của H2 ở số H T, phường N, quận L, Hải Phòng chơi, H và H3 đồng ý. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15K1-120.29 một mình mang theo túi xách màu nâu có chứa ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá đến phòng trọ của H2 trước, một lúc sau thì H3 đến. Khi cả nhóm đang ngồi nói chuyện, H rủ H2 và H3 sử dụng ma túy đá, H2 và H3 đồng ý. H bảo H2 cho xin 01 vỏ chai nước, H2 lấy 01 chai nhựa (dạng chai nước ngọt Sting) đựng sẵn nước đưa cho H, H nhận chai nước rồi lấy từ trong túi xách màu nâu của mình ra các dụng cụ và ma túy gồm: 01 nắp nhựa đục sẵn 02 lỗ có gắn ống hút nhựa và tẩu thủy tinh lắp vào chai nhựa H2 đưa tạo thành bộ sử dụng ma túy đá; 01 lọ thủy tinh chứa ma túy đá; 01 bật lửa khò để sử dụng ma túy. Sau đó, H bảo H2 đưa 01 túi nilon để H nghiền ma túy đá, H2 lấy 01 túi nilon trong nhà đưa cho H. H lấy 01 túi ma túy đá trong lọ thủy tinh ra cho vào túi nilon H2 đưa để nghiền mịn rồi cho một ít vào tẩu thủy tinh. Số ma túy đã nghiền còn lại H để cạnh bộ dụng cụ sử dụng ma túy, khi nào trong tẩu hết thì tiếp tục lấy sử dụng. Tiếp đó, H dùng bật lửa đốt để sử dụng ma túy trước rồi H đốt cho H2 và H3 sử dụng được khoảng 03-04 lượt thì nhà trọ của H2 mất điện. Lúc này, H3 cho thêm ma túy đá vào tẩu, dùng bật lửa đốt cho H2 và H sử dụng một hơi, sau đó tự dùng bật lửa đốt để H3 sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H bảo H3 cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy, túi nilon chứa ma túy đá và bật lửa vào góc tường. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, H2 ra mở cửa phòng trọ thì tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L, Hải Phòng kết hợp cùng Công an phường N, quận L kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại góc phòng phía bên trái cạnh cửa ra vào: 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 9,5 x 06 cm đựng tinh thể màu trắng nghi là ma túy (KT01); 01 bật lửa khò, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trong tẩu thủy tinh có bám dính tạp chất màu nâu (KT02).
Tổ công tác khám xét khẩn cấp phòng trọ và thu giữ: Tại mặt đệm sát tường 01 gói giấy bản màu trắng bên trong có 01 tẩu thủy tinh; 01 túi xách nam màu nâu bên trong có: 03 ống hút màu trắng, tròn bằng nhựa, dài khoảng 20cm; 01 nắp nhựa màu trắng được đục lỗ; 02 bật lửa màu đỏ; 01 cân điện tử màu xanh; 01 túi nilon màu trắng, mép viền màu cam, kích thước 06 x 04cm; 01 túi nilon mép viền trắng, kích thước 04 x 03cm; 01 quần bò nam để trên đệm, bên trong túi quần có 01 ví da màu nâu bên trong có: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H; 01 mảnh giấy bạc bên trong có 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 06 x 10cm đựng chất bột màu trắng (KX1); thu trong góc phòng cạnh tủ lạnh 01 lọ thủy tinh bên trong có: 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng, gói 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 02 x 2,5cm, chứa tinh thể màu trắng (KX2), 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 07 x 11,5cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng, mép viền xanh, kích thước 02 x 1,5cm đựng tinh thể màu trắng (KX3), 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 06 x10cm bên trong có 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng gói 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 02 x 2,5cm chứa tinh thể màu trắng (KX4), 01 mảnh giấy bản gói 01 mảnh túi nilon mép viền đỏ đựng chất bột màu trắng (KX5); thu tại sàn nhà, cạnh đệm, cạnh chỗ ngồi của Nguyễn Thanh H 01 mảnh giấy bản màu trắng; thu số tiền 1.326.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone XS max tối màu, 01 điện thoại Samsung màu đen bạc, 01 xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-120.29 của H; 01 điện thoại OPPO của H2; 01 điện thoại Samsung của H3. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an quận L làm việc.
Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn T1 tại nhà số D T, phường T, quận L, Hải Phòng. Khi thấy lực lượng Công an đến, T1 đã tự nguyện lấy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc giao nộp: 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ, kích thước khoảng 04x07cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; kiểm tra túi quần bên phải của T1 phát hiện thu giữ 01 cân điện tử; số tiền 1.120.000 đồng (một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng), Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T1. Quá trình thi hành Lệnh khám xét thu giữ: Tại vị trí khe ghế sofa 01 túi nilon màu trắng, mép viền cam, kích thước 13x09cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (KX1); thu tại ngăn tủ kệ ti vi 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ, kích thước 13x08cm bên trong chứa 19 viên nén màu hồng hình tam giác (KX2); thu tại góc nhà 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 điện thoại Redmi và 01 điện thoại Nokia của T1.
Tại bản Kết luận giám định số 469/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- + Tinh thể màu trắng của mẫu KT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,35 gam, loại Methamphetamine;
- + Chất màu nâu bám dính trong tẩu thủy tinh của mẫu KT02 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên;
- + Chất bột màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,24 gam, loại Ketamine;
- + Tinh thể màu trắng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,38 gam loại Methamphetamine;
- + Tinh thể màu trắng của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,22 gam loại Methamphetamine;
- + Tinh thể màu trắng của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,42 gam loại Methamphetamine;
- + Tinh thể màu trắng của mẫu KX5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,04 gam loại Ketamine.
Tại Bản kết luận giám định số 683/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng (thu trong túi quần bên trái của T1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,69 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,82 gam, loại Ketamine; 19 (mười chín) viên nén màu hồng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,58 gam loại MDMA.
Xét nghiệm nước tiểu kết quả: Nguyễn Thanh H, Nguyễn T1, Phạm Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị H3 dương tính với Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh H, Phạm Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị H3 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án như trên. H khai: toàn bộ số ma túy và các vật chứng khác bị thu giữ tại nhà H2 là của H (riêng chai nhựa trong bộ dụng cụ là của H2). Túi ma túy trong góc phòng (mẫu KT01) cùng bật lửa và bộ dụng cụ sửa dụng ma túy đá (mẫu KT02) là của H bỏ ra để sử dụng với H2 và H3, khi đang sử dụng thì mất điện nên H bảo H3 cất túi ma túy vào góc phòng để khi nào có điện sẽ mang ra cùng sử dụng tiếp. Số ma túy Methamphetamine H mua của T1 vào tối ngày 14/4/2024, H chia nhỏ ra để trong lọ thủy tinh để bản thân sử dụng dần. Số ma túy Ketamine (mẫu KX1 và KX5) trong ví để trong túi quần và trong lọ thủy tinh, H được một người bạn (không nhớ lai lịch địa chỉ) cho trước đây khoảng 06 tháng, do lâu không dùng nên H không nhớ vị trí cất giấu. H đã nhiều lần mua ma túy của T1 nhưng không nhớ chính xác cụ thể số lần, thời gian và số tiền mua. H chỉ nhớ ngày mua gần nhất là ngày 12/4/2024, H mua của T1 02 gam ma túy đá với giá 1.400.000 đã sử dụng hết và khoảng 23 giờ ngày 14/4/2024, mua của T1 01 gam ma túy đá với giá 700.000 đồng tại khu vực đầu ngõ A Chùa Hàng. Các dụng cụ bị thu giữ H cất giữ đều nhằm mục đích để chia và sử dụng ma túy. Chiếc quần để trên giường có cất giấu ma túy và các đồ vật khác để ở các vị trí khác nhau trong phòng là của H, do H lấy từ trong túi xách để ra ngoài chưa kịp thu dọn. Chiếc điện thoại di động Iphone XS max tối màu H dùng để liên lạc với T1 để mua ma túy.
Ngoài ra, H, H2 và H3 còn khai trước khi bị bắt khoảng 01 tuần (khoảng ngày 07/4/2024) vào buổi trưa, H mang ma túy đá và bộ dụng cụ đến nhà trọ của H2 để cùng H2 và H3 sử dụng, H đổ ma túy vào tẩu thủy tinh sử dụng trước rồi H2 và H3 tự châm lửa đốt để sử dụng, không ai châm lửa cho người khác sử dụng. H và H3 khai: sau khi sử dụng ma túy tại nhà H2 xong, đến chiều tối H tiếp tục mang số ma túy đá còn lại và bộ dụng cụ trên thuê một nhà nghỉ ở địa bàn V (không nhớ rõ địa chỉ) rồi rủ H3 đến cùng sử dụng. Khi H3 đến đã thấy sẵn ma túy đá trong tẩu nên tự châm lửa đốt sử dụng, không ai châm lửa cho người khác sử dụng. Việc H cất giấu ma túy trong túi quần, lọ thủy tinh H2 và H3 không biết.
Nguyễn T1 khai nhận hành vi phạm tội như trên. T1 đã nhiều lần bán ma túy đá cho H, nhưng không nhớ chính xác số lần, số tiền và thời gian mua bán ma túy. Trúc chỉ nhớ ngày 12/4/2024, T1 bán cho H 02 gam ma túy đá với giá 1.400.000 đồng và 14/4/2024 bán cho H 01 gam ma túy đá với giá 700.000 đồng, tổng khối lượng ma tuý H mua của T1 tại khu vực đầu ngõ 19 Chùa Hàng trong hai ngày 12/4/2024 và 14/4/2024 là 03 gam ma tuý với tổng số tiền 2.100.000 đồng. Số ma túy T1 bán cho H đều mua của một nam giới không rõ lai lịch ở khu vực đường T, quận L. Đối với số ma túy bị thu giữ khi bị bắt quả tang và khám xét là T1 mua của một người phụ nữ tên H2 tại số C T, phường H, quận L, Hải Phòng nhằm mục đích để bán. Vào khoảng tháng 5/2024 T1 đến nhà H2 sử dụng ma túy, sau đó H2 đưa cho T1 20 gam ma túy Ketamine, 01 túi nilon đựng 40 viên nén ma túy thuốc lắc và báo giá 700.000 đồng/01 gam Ketamine; 170.000 đồng/01 viên thuốc lắc, khi nào T1 bán được mới phải thanh toán tiền. Trúc mang số ma túy trên về nhà, đến hôm sau không ai hỏi mua nên đã đem trả lại H2 khoảng 10 gam ma túy Ketamine, 15-20 viên thuốc lắc, số ma túy còn lại T1 đã bán được cho vài người (không rõ lai lịch) được khoảng 05 gam ma túy Ketamine với giá 800.000 đồng/01 gam và khoảng 06 viên thuốc lắc với giá 200.000 đồng/01 viên thu lời được khoảng 680.000 đồng. Sau khi bán được T1 đã trả cho H2 10.000.000 đồng.
Khoảng 01 giờ ngày 04/6/2024, T1 đến nhà H2 mua 2.500.000 đồng ma túy đá, đựng trong 01 túi nilon màu trắng viền mép màu đỏ, T1 mang về nhà sử dụng một ít, số còn lại vẫn để trong túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 09 giờ ngày 04/6/2024, cơ quan Công an khám xét đã bị thu giữ số ma túy như trên. Cân điện tử T1 dùng để cân chia ma túy bán, số tiền 1.120.000 đồng là tiền do T1 bán ma túy mà có nhưng không nhớ ai trả, bộ dụng cụ sử dung ma túy T1 dùng để sử dụng ma túy cho bản thân, 02 điện thoại bị thu giữ T1 đều dùng để liên lạc mua bán ma túy, chiếc điện thoại T1 liên lạc với H hiện T1 đã bán. T1 không biết lai lịch địa chỉ của H2 ở đâu, không lưu số điện thoại của H2 và không nhớ số điện thoại của H2. Hai lần mua ma túy của H2 đều được H2 hẹn gặp ở số C T, T1 không biết H2 có ở đây thường xuyên không. Tại nhà số C T, T1 có thấy một nam giới tên M sống ở đây, nhưng T1 không gặp và mua ma túy của M, việc mua bán ma túy của H2 và T1 thì không có ai biết và tham gia cùng, hiện T1 không nhận dạng được H2 và M.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành xác minh nhà số C T, phường H, quận L, Hải Phòng có Bùi Như T3 (sinh năm 1964) sinh sống, T3 có tên gọi khác là M. Thứ khai: Có bạn Phùng Thị H5 (sinh năm 1982, trú tại số H đường H, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng), thỉnh thoảng H5 đến nhà T3 chơi nhưng T3 không thấy H5 bán ma túy cho ai. Thứ không quen biết Nguyễn Trúc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành kiểm tra khôi phục dữ liệu điện thoại của T1 và H. Trong dữ liệu điện thoại của H có nhiều tin nhắn liên quan đến nội dung mua bán ma túy của T1 và H nhưng cả T1 và H đều khai không nhớ cụ thể việc mua bán như thế nào và chỉ nhớ nội dung mua bán của ngày 12/4/2024 và ngày 14/4/2024 như trên; dữ liệu điện thoại của H thể hiện ngày 15/4/2024 H chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của T1 (số tài khoản 94842012490 – Ngân hàng thương mại cổ phần T6) số tiền 700.000 đồng để trả tiền mua ma túy đá. Trong dữ liệu điện thoại của T1 có các nội dung thể hiện một số tài khoản Zalo, số điện thoại nghi liên quan đến việc trao đổi mua bán ma túy với T1, nhưng T1 không nhớ những người này là ai, nội dung cụ thể việc mua bán như thế nào.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã có công văn gửi Công ty cổ phần V2 cung cấp thông tin của các số Zalo liên lạc với T1 nhưng đến nay chưa có kết quả; công văn gửi Công ty D2 khu vực 5 cung cấp thông tin các số điện thoại có liên hệ với T1: 0784515585, 0904291669 và số 0702229000. Xác minh chủ thuê bao 0702229000 là của Trần Quang Đ1 (sinh năm 1993, trú tại: số C Chùa H, D, L, Hải Phòng), hiện chính quyền địa phương không triệu tập được Đ1 do nhà Đ1 đóng cửa. Chủ thuê bao 0784515585 là Ngô Tuấn T4 (sinh năm 1985, trú tại: phường Đ, H, Hải Phòng), xác minh tại địa phương không có ai là Ngô Tuấn T4 có lai lịch như trên. Chủ thuê bao 0904291669 là của Phùng Thị H5 (sinh năm 1982, trú tại: khu A, N, Hải Phòng), H5 khai: có bạn là Bùi Như T3 sinh sống tại số C T, phường H, quận L, Hải Phòng, thỉnh thoảng H5 có đến nhà T3 chơi, H5 không không quen biết Nguyễn T1 và không bán ma túy tại nhà T3; trước đây H5 có sử dụng số điện thoại 0904.291.xxx nhưng đã bị mất từ cuối năm 2023.
Về vật chứng vụ án: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L: 01 bì giấy niêm phong số: 469 MT/PC09 đựng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong số: 683MT/PC09 đựng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong số: 684MT/PC09 đựng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong số: 469 MT-A/PC09 đựng 01 tẩu thủy tinh sau giám định; 01 bật lửa khò, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 gói giấy bản màu trắng bên trong có 01 tẩu thủy tinh; 01 túi xách nam màu nâu; 03 ống hút màu trắng, tròn bằng nhựa, dài khoảng 20cm; 01 lắp nhựa màu trắng được đục lỗ; 02 bật lửa màu đỏ; 02 cân điện tử; 01 túi nilon màu trắng mép viền màu cam, kích thước 06 x 04cm; 01 túi nilon mép viền trắng, kích thước 04 x 03cm; 01 quần bò nam, 01 ví da màu nâu, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H, 01 lọ thủy tinh, 01 mảnh giấy bản màu trắng; số tiền 1.326.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone XS max tối màu, 01 điện thoại Samsung màu đen bạc của H, 01 biển kiểm soát: 15K1-120.29, 01 điện thoại OPPO của H5; 01 điện thoại Samsung của H3; số tiền 1.120.000 đồng; 01 điện thoại Redmi và 01 điện thoại Nokia của T1
Đối với xe mô tô đeo biển kiểm soát 15K1-120.29, qua giám định, biển số xe là giả, xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, hoặc sửa chữa các ký tự. Quá trình xác minh xe trên có tên chủ xe là chị Đinh Thị P, sinh năm: 1979, trú tại: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Yên Bái. Chị P khai khoảng tháng 01/2019 P bị trộm cắp xe mô tô trên tại địa bàn quận L, Hải Phòng nhưng không trình báo cơ quan chức năng. Nguyễn Thanh H khai mua xe trên vào đầu năm 2024 của một nam giới lạ mặt tại địa bàn quận L, khi mua xe không có giấy tờ, không biết là xe trộm cắp mà có. Xét thấy vụ việc trên có dấu hiệu hành vi trộm cắp tài sản vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với việc Nguyễn T1 khai ngoài H còn có nhiều người khác mua ma túy của T1 nhưng T1 không biết lai lịch địa chỉ, hiện chưa xác minh được những người này là ai, ngoài lời khai của T1 không có tài liệu khác chứng minh, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với đối tượng những bán ma túy cho T1 và đối tượng cho Nguyễn Thanh H 0,28 ma túy loại Ketamine do hiện không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với Phùng Thị H5 và Bùi Như T3 tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội Nguyễn T1 nên Cảnh sát điều tra -Công an quận L có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 294/CT-VKSLC ngày 08/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về 02 tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Phạm Thị Thanh H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H với mức hình phạt từ 09 đến 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; từ 21 đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 10 năm 09 tháng đến 12 năm 03 tháng tù.
- - Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn T1 với mức hình phạt từ 09 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Thanh H2 với mức hình phạt từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H3 với mức hình phạt từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 469MT/PC09, 683MT/PC09, 684MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 bì giấy niêm phong số 469MT- A/PC09 đựng 01 tẩu thuỷ tinh sau giám định; 01 bật lửa khò, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 gói giấy bản màu trắng bên trong có 01 tẩu thủy tinh; 03 ống hút màu trắng, tròn bằng nhựa, dài khoảng 20cm; 01 nắp nhựa màu trắng được đục lỗ; 02 bật lửa màu đỏ; 02 cân điện tử; 01 túi nilon màu trắng mép viền màu cam, kích thước 06 x 04cm; 01 túi nilon mép viền trắng, kích thước 04 x 03cm; 01 lọ thủy tinh, 01 mảnh giấy bản màu trắng; 01 biển kiểm soát: 15K1-120.29.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS max tối màu của H; 01 điện thoại Redmi, 01 điện thoại Nokia của T1
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H; 01 túi xách nam màu nâu; 01 quần bò nam; 01 ví da màu nâu; 01 điện thoại Samsung màu đen bạc và số tiền 1.326.000 đồng, trả lại cho bị cáo Phạm Thị Thanh H2 01 điện thoại OPPO, trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H3 01 điện thoại Samsung
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.120.000 đồng
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự truy thu buộc bị cáo T1 phải nộp lại số tiền 2.100.000 đồng
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Như vậy, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị H3 khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 15/4/2024 tại phòng trọ của Phạm Thị Thanh H2 tại địa chỉ: Số H T, phường N, L, Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Thanh H đã có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho H2 và H3 sử dụng ma tuý; bị cáo Phạm Thị Thanh H2 có hành vi cung cấp nơi ở của mình, dụng cụ sử dụng ma túy để H và H3 sử dụng ma tuý; bị cáo Nguyễn Thị H3 có hành vi châm lửa đốt ma túy để mời H và H2 sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện. Ngoài ra, vào khoảng ngày 07/4/2024, bị cáo Nguyễn Thanh H đã có hành vi mang ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy đến nhà trọ của Phạm Thị Thanh H2 để H2 và H3 sử dụng ma tuý, bị cáo Phạm Thị Thanh H2 là người cung cấp địa điểm để H tổ chức cho H2 và H3 sử dụng ma tuý, sau đó H rủ H3 đến một khách sạn trên địa bàn phường V để H và H3 tiếp tục sử dụng ma túy. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị H3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”: Tại phiên toà lời khai của bị cáo Nguyễn Trúc phù H6 với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án: Ngày 12/4/2024 và 14/4/2024, Nguyễn T1 có hành vi bán trái phép lần lượt là 02 gam và 01 gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Thanh H. Ngoài ra ngày 04/6/2024 tại địa chỉ nhà số D T, phường T, L, Hải Phòng bị cáo Nguyễn T1 bị bắt quả tang khi có hành vi cất giữ trái phép 3,69 gam ma túy loại Methamphetamine, 2,82 gam ma túy loại Ketamine và 8,58 gam ma túy loại MDMA với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thoả mãn cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật
[4] Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thanh H khai báo và thừa nhận đối với lượng ma túy còn lại của bị cáo bị thu giữ là 1,02 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,28 gam ma túy loại Ketamine, H khai là của H cất giữ để sử dụng riêng cho bản thân, không cho ai khác sử dụng. Số lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ với mục đích để sử dụng là M1 và Ketamine có khối lượng từng chất ma túy là: 1,02 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,28 gam ma túy loại Ketamine, theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu của Methamphetamine được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 20,4%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 1,4%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 21,8%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là dưới 100% do đó hành vi cất giữ trái phép 1,02 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,28 gam ma túy loại Ketamine trên của Nguyễn Thanh H đã thoả mãn cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt
[5] Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Trong vụ án xác định bị cáo Nguyễn Thanh H đã 02 lần chuẩn bị, cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng cho Phạm Thị Thanh H2, Nguyễn Thị H3 sử dụng ma tuý. Bị cáo Phạm Thị Thanh H2 đã 02 lần cung cấp địa điểm là nơi ở của mình cho Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị H3 sử dụng ma tuý. Bị cáo Nguyễn Thị H3 có hành vi châm lửa đốt ma tuý cho Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thị H3 sử dụng ma tuý. Do đó các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị H3 cùng phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị H3 phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện Kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”: Trong vụ án xác định bị cáo Nguyễn T1 thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý 02 lần trở lên cho Nguyễn Thanh H. Đối với số lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ với mục đích để bán là Methamphetamine, Ketamine và MDMA có khối lượng từng chất ma túy là: 3,69 gam loại Methamphetamine, 2,82 gam loại Ketamine và 8,58 gam loại MDMA, theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu của Methamphetamine được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 12,3%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 2,82%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu của MDMA được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 28,6%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 43,72%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng Methamphetamine, Ketamine và MDMA so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là dưới 100%. Do đó bị cáo Nguyễn Trúc P1 chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại các điểm b,p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về đánh giá tính chất vụ án:
[7] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, vụ án xẩy ra có đồng phạm, nhiều người tham gia. Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị H3, Nguyễn T1 biết rõ hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm khác, hành vi các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy, cần xét xử các bị cáo một mức án nghiêm, buộc các bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về đánh giá vai trò của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị H3 phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo H là người chủ động đưa ra đề nghị sử dụng ma tuý, bị cáo là người cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng, do đó vai trò của bị cáo là có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Phạm Thị Thanh H2 và bị cáo Nguyễn Thị H3 đồng ý tham gia trong đó bị cáo H2 là người cung cấp địa điểm sử dụng ma tuý và bị cáo H3 là người châm lửa đốt ma túy để cho H và H2 sử dụng. Do vậy đánh giá vai trò của các bị cáo H2 và H3 là ngang nhau và thấp hơn bị cáo H.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[9] Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn T1, Phạm Thị Thanh H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[10] Đối với bị cáo Nguyễn Thị H3, tại Bản án số 14/2021/HS-ST ngày 28/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa được xoá án tích, nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[11] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[12] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249, khoản 2 Điều 251, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát tại phiên toà mới đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do bị cáo Nguyễn Thanh H phạm 2 tội nên cần tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo phải thi hành theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
[14] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với mức hình phạt từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng và từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý:
[15] Đối với 01 bì giấy niêm phong số 469MT/PC09, 683MT/PC09, 684MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 bì giấy niêm phong số 469MT- A/PC09 đựng 01 tẩu thuỷ tinh sau giám định; 01 bật lửa khò, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 gói giấy bản màu trắng bên trong có 01 tẩu thủy tinh; 03 ống hút màu trắng, tròn bằng nhựa, dài khoảng 20cm; 01 nắp nhựa màu trắng được đục lỗ; 02 bật lửa màu đỏ; 02 cân điện tử; 01 túi nilon màu trắng mép viền màu cam, kích thước 06 x 04cm; 01 túi nilon mép viền trắng, kích thước 04 x 03cm; 01 lọ thủy tinh; 01 mảnh giấy bản màu trắng; 01 biển kiểm soát: 15K1-120.29 được xác định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng, nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[16] Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS max tối màu đã qua sử dụng không lên nguồn thu giữ của bị cáo H, 01 điện thoại Redmi màu đen đã qua sử dụng, không lên nguồn và 01 điện thoại Nokia mất nắp sau đã qua sử dụng, không lên nguồn thu giữ của bị cáo T1. Xét thấy, số vật chứng này là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[17] Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H, 01 quần bò nam, 01 ví da màu nâu, 01 túi xách nam màu nâu, 01 điện thoại Samsung màu đen bạc thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H; 01 điện thoại OPPO đã qua sử dụng, không lên nguồn thu giữ của bị cáo Phạm Thị Thanh H2; 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng, không lên nguồn thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H3. Xét thấy các vật chứng này là tài sản thuộc sở hữu của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần xem xét trả lại cho các bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[18] Số tiền 1.326.000 đồng thu giữ của bị cáo H, hiện đang trong tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Lê Chân tại Kho bạc Nhà nước H7. Xác định đây là tiền của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, Do đó căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
[19] Đối với số tiền 1.120.000 đồng thu giữ của bị cáo T1 hiện đang trong tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Lê Chân tại Kho bạc Nhà nước H7. Xét thấy, số tiền này là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước
[20] Đối với số tiền 2.100.000 đồng bị cáo T1 có được do thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo T1 phải nộp lại số tiền 2.100.000₫ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước
[21] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[22] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh H
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị Thanh H2
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Thanh H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b,p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trúc .
Tuyên bố bị cáo Nguyễn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (C1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm 03 tháng (Mười năm ba tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 04 năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thanh H2 08 năm 06 tháng (T5 năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 04 năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H3 08 năm 06 tháng (T5 năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 04 năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn T1 09 năm 06 tháng (Chín năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 06 năm 2024
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 469MT/PC09, 683MT/PC09, 684MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 bì giấy niêm phong số 469MT- A/PC09 đựng 01 tẩu thuỷ tinh sau giám định; 01 bật lửa khò, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 gói giấy bản màu trắng bên trong có 01 tẩu thủy tinh; 03 ống hút màu trắng, tròn bằng nhựa, dài khoảng 20cm; 01 nắp nhựa màu trắng được đục lỗ; 02 bật lửa màu đỏ; 02 cân điện tử; 01 túi nilon màu trắng mép viền màu cam, kích thước 06 x 04cm; 01 túi nilon mép viền trắng, kích thước 04 x 03cm; 01 lọ thủy tinh; 01 mảnh giấy bản màu trắng; 01 biển kiểm soát: 15K1-120.29;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS max tối màu đã qua sử dụng, không lên nguồn; 01 điện thoại Redmi màu đen đã qua sử dụng, không lên nguồn; 01 điện thoại Nokia mất nắp sau đã qua sử dụng, không lên nguồn;
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H, 01 quần bò nam, 01 ví da màu nâu, 01 túi xách nam màu nâu, 01 điện thoại Samsung màu đen bạc; trả lại cho bị cáo Phạm Thị Thanh H2 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng, không lên nguồn; trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H3 01 điện thoại OPPO đã qua sử dụng, không lên nguồn
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 1.326.000đ (Một triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu nộp ngân sách số tiền 1.120.000 đồng thu giữ của bị cáo T1 (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 11/11/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và các uỷ nhiệm chi ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Kho bạc nhà nước L).
- - Truy thu buộc bị cáo T1 nộp lại số tiền 2.100.000₫ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) đề nộp vào ngân sách nhà nước
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn T1, Phạm Thị Thanh H2, Nguyễn Thị H3 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Ninh |
Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 294/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
