Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 294/2024/HS-ST

Ngày: 04-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Quản
  2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 381/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1715/2024/QĐXXST ngày 09/10/2024, đối với các bị cáo:

1/ Phạm Thanh H, sinh năm 1989; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh ; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 2 N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có chỗ ở nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Thanh H1, sinh năm 1963, con bà Lương Thị O, sinh năm 1965; Anh chị em: Bị can là con duy nhất, Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 437/2008/HSST ngày 30/05/2008 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 2 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2018, đã đóng 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm (bút lục 149-155).
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 567/2008/HSST ngày 18/07/2008 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 07 năm tù về tội “ Giết người”, 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt đối với 02 tội phạm là 11 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2018, đã đóng 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (bút lục 156-163).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 04/4/2024.

2/ Đào Mai Thanh P, sinh năm 1994; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 211/10, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 85 đường T,Tổ 14, Khu S, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Thanh H2 (đã chết), con bà Đào Thị Kim N, sinh năm 1973; Anh chị em: Bị cáo là con duy nhất, Vợ Huỳnh Thị Cẩm N1, sinh năm 1999, con 02 người, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023, Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/05/2018, bị Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 22/11/2019( bút lục 164).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 04/4/2024

Bị hại: Ông Lê Văn Ý, sinh năm: 1987

Địa chỉ: P trọ số A, nhà số C, đường T, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đỗ Thị X; Địa chỉ: A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

Bà Y B; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, Thành phố K, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt tại phiên tòa).

Bà Y G; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, Thành phố K, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Phạm Thanh H và Đào Mai Thanh P rủ nhau cùng đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đi, H chuẩn bị 01 thanh kim loại có một đầu dẹt, đuôi hình lục giác (đoản phá khóa xe mô tô) và 01 cờ lê ống điếu số 8, hiệu SUN, hình L có 02 đầu hình lục giác bỏ vào túi quần phía sau bên phải Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen biển số 82B1 – 944.82 chở H chạy trên các tuyến đường thuộc địa bàn quận T, Quận A để tìm tài sản. Khi cả hai đến trước địa chỉ số C, đường T, Khu phố G, phường T, Quận A thì cả hai phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ bạc, biển số: 84G1 – 773.75 của ông Lê Văn Ý đang dựng trước cửa phòng trọ không người trông coi. P dừng xe mô tô trước đầu hẻm để cảnh giới, còn H vào bên trong thấy xe không khóa cổ nên H đẩy lùi xe dẫn bộ ra khỏi cửa phòng trọ. Đến đầu hẻm, H lấy đoản phá khóa xe nhưng không được vì đầu đoản rơi mất nên H ngồi trên xe mô tô vừa trộm được để P điều khiển xe mô tô biển số 82B1 – 944.82, dùng chân kè đẩy Hổ tẩu thoát về phòng trọ số 3 tại địa chỉ 87/18, Khu phố D, phường T, Quận A nơi Hổ thuê ở. Tại đây, H dùng 01 cây tua vít để tháo mặt nạ xe, đấu nối dây điện, khởi động máy xe. Sau đó, H liên hệ với một người thanh niên tên B1 quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) để bán chiếc xe mô tô trên được số tiền 7.500.000 đồng, với hình thức mua bán người mua đến phòng trọ nhận xe và nói H cung cấp số tài khoản để chuyển tiền. Hổ cung cấp số tài khoản của P cho người này để nhận chuyển khoản số tiền 7.500.000 đồng từ người chuyển mang tên “DO THỊ XUYEN”. Sau khi nhận tiền, P chuyển khoản cho H số tiền 3.800.000 đồng, P giữ lại số tiền 3.700.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Sau khi phát hiện bị mất trộm xe mô tô biển số 84G1 – 773.75, vào cùng ngày, ông Lê Văn Ý đến Công an phường T, Quận A trình báo vụ việc (bút lục 57).

Ngày 03/4/2024, tổ tuần tra Công an phường T phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, không gắn biển số xe, số khung: RLHJA392XPY490367, số máy: JA39E31138 tại bãi đất trống thuộc Khu phố B, phường T, Quận A (bút lục 58).

Quá trình điều tra, truy xét, ngày 03/4/2024, Cơ quan điều tra đưa Phạm Thanh H và Đào Mai Thanh P về trụ sở để làm việc. Qua làm việc, Phạm Thanh H và Đào Mai Thanh P đã khai nhận hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được (bút lục 85-108).

Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với bà Đỗ Thị X (chủ tài khoản chuyển tiền đến tài khoản của Đào Mai Thanh P), bà X trình bày hiện kinh doanh mua bán điện thoại di động và dịch vụ chuyển tiền nhanh tại địa chỉ số C H, phường T, Quận A. Vào ngày 02/4/2024, khi X đang ở cửa hàng điện thoại thì có 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhờ chuyển khoản số tiền 7.500.000 đồng vào số tài khoản 1028971353 do Đào Mai Thanh P đứng tên chủ tài khoản. Bà X đồng ý và lấy phí chuyển tiền 20.000 đồng. Sau khi chuyển khoản thành công, người này đưa cho bà X số tiền 7.520.000 đồng rồi bỏ đi (bút lục 202-203).

Tại Kết luận định giá tài sản số 161/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ bạc, biển số: 84G-773.75 trị giá 11.000.000 đồng (bút lục 54-55).

* Vật chứng vụ án:

Tạm giữ của Đào Mai Thanh P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imeil 1: 862627051185830, số Imeil 2: 862627051185822; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen, biển số 82B1-944.82, số khung: RLCUG1010JY072988, số máy: G3D4E839426. P trình bày mượn xe của bạn gái Y G. Qua xác minh, xe mô tô trên do bà Y BIH đứng tên đăng ký, sau đó giao xe và giấy tờ cho con gái tên Y G sử dụng. Y G trình bày vào ngày 17/3/2024 đã đưa xe cho Đào Mai Thanh P dùng làm phương tiện đưa đón Y G đi làm, việc P sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản thì Y G không biết (bút lục 67, 71; 176; 207).

Tạm giữ của Phạm Thanh H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu đen, số Imeil 1: 862433065259244/78, số Imeil 2: 862433065259251/78 (bút lục 72).

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, không gắn biển số xe, số khung: RLHJA392XPY490367, số máy: JA39E3113885. Kết quả xác minh, xe mô tô trên đăng ký biển số 84G1 - 773.75 của ông Lê Văn Ý bị mất trộm vào ngày 02/4/2024, Cơ quan điều tra đã lập biên bản trả lại xe cho ông Ý (bút lục 73, 73a, 170, 174).

01 USB có hình ảnh liên quan đến vụ án (lưu kèm hồ sơ).

* Đồ vật tạm giữ:

Tạm giữ của Phạm Thanh H: 01 khóa ống điếu số 8 (cờ lê) nhãn hiệu SUN bằng kim loại hình L, có 02 đầu lục giác; 01 quần jean dài màu đen; 01 áo sơ mi tay dài sọc trắng đen; 01 mũ bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen (bút lục 69).

Tạm giữ của Đào Mai Thanh P: 01 áo khoác xe ôm công nghệ Gojek; 01 mũ bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen (bút lục 67).

Trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn Ý đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác (bút lục 25-26).

Tại Bản cáo trạng số: 298/CT-VKS ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Thanh H và Đào Mai Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo H tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.800.000 đồng và Bị cáo P tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.700.000 đồng Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa hôm nay, Các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại trước địa chỉ số C, đường T, Khu phố G, phường T, Quận A, Phạm Thanh H và Đào Mai Thanh P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ bạc, biển số 84G1 – 773.75 trị giá 11.000.000 đồng của ông Lê Văn Ý, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Các bị can phạm tội có tính đồng phạm giản đơn, trong đó, H là người trực tiếp thực hiện tội phạm, P là người giúp sức tích cực. Hành vi phạm tội của các bị can đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Thanh H và Đào Mai Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Đối với đối tượng “Bi” không rõ lai lịch mua xe do Phạm Thanh H phạm tội mà có, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy phải xử nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội.

Bị cáo H là người rủ bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội. Mặc khác bị cáo H cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H có nhân thân xấu tại Bản án hình sự sơ thẩm số 437/2008/HSST ngày 30/05/2008 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 2 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2018, đã đóng 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và tại Bản án hình sự sơ thẩm số 567/2008/HSST ngày 18/07/2008 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người”, 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt đối với 02 tội phạm là 11 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2018, đã đóng 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên bị cáo H phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo P. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Riêng bị cáo P bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo P.

[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

  • Về xử lý vật chứng:
    • Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, không gắn biển số xe, số khung: RLHJA392XPY490367, số máy: JA39E3113885. Kết quả xác minh, xe mô tô trên đăng ký biển số 84G1 - 773.75 của ông Lê Văn Ý bị mất trộm vào ngày 02/4/2024 cho ông Ý (bút lục 73, 73a, 170, 174).
    • Trả lại cho 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen, biển số 82B1-944.82, số khung: RLCUG1010JY072988, số máy: G3D4E839426 cho bà Y BIH. P trình bày mượn xe của bạn gái Y G. Qua xác minh, xe mô tô trên do bà Y BIH đứng tên đăng ký, sau đó giao xe và giấy tờ cho con gái tên Y G sử dụng. Y G trình bày vào ngày 17/3/2024 đã đưa xe cho Đào Mai Thanh P dùng làm phương tiện đưa đón Y G đi làm, việc P sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản thì Y G không biết (bút lục 67, 71; 176; 207).
    • Đối với 01 USB có hình ảnh liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 khóa ống điếu số 8 (cờ lê) nhãn hiệu SUN bằng kim loại hình L, có 02 đầu lục giác; 01 quần jean dài màu đen; 01 áo sơ mi tay dài sọc trắng đen; 01 mũ bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen (bút lục 69) của Phạm Thanh H:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác xe ôm công nghệ Gojek; 01 mũ bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen (bút lục 67) của Đào Mai Thanh P.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu đen, số Imeil 1: 862433065259244/78, số Imeil 2: 862433065259251/78 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imeil 1: 862627051185830, số Imeil 2: 862627051185822.
    • Buộc bị cáo H nộp lại số tiền 3.800.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 3.700.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Về trách nhiệm dân sự:
    • Bị hại Ông Lê Văn Ý đã nhận lại tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn nên không áp dụng.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Mai Thanh P 01 (một) năm (03) ba tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

[2] Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Buộc bị cáo Phạm Thanh H nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 3.800.000 (ba triệu tám trăm ngàn) đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo Đào Mai Thanh P nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 3.700.000 (ba triệu bảy trăm ngàn) đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB có hình ảnh liên quan đến vụ án (lưu kèm hồ sơ).
  • Trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen, biển số 82B1-944.82, số khung: RLCUG1010JY072988, số máy: G3D4E839426 cho bà Y BIH đứng tên đăng ký.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 khóa ống điếu số 8 (cờ lê) nhãn hiệu SUN bằng kim loại hình L, có 02 đầu lục giác; 01 quần jean dài màu đen; 01 áo sơ mi tay dài sọc trắng đen; 01 mũ bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen (bút lục 69). 01 áo khoác xe ôm công nghệ Gojek; 01 mũ bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen (bút lục 67)
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu đen, số Imeil 1: 862433065259244/78, số Imeil 2: 862433065259251/78 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh, số Imeil 1: 862627051185830, số Imeil 2: 862627051185822.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 263/QĐ-VKS, ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 СА TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1b)
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 294/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger