TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 294/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Hậu;
Bà Lê Thị Ngọc Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 343/2024/HSST-QĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 490/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
Đỗ Trần Hoàng L, sinh năm 1989 tại Đồng Nai;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: C N, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trường T (đã chết) và bà Trần M; vợ là Nguyễn Trần Phương T1, có 02 con sinh năm 2014 và 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 18/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1665/LC-ĐTTH ngày 18/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. (Có mặt).
Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994 tại Thanh Hoá;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 47B/10, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T2 và bà Trần Thị T3; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 18/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1668/LC-ĐTTH ngày 18/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. (Vắng mặt).
Nguyễn Tiến T4, sinh năm 1990 tại Đắk Lắk;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A, tổ C, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Không rõ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Hồng V; vợ là Phan Thị Thu T5, có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/3/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 tháng 20 ngày tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự (Bản án số: 202/2016/HSST ngày 30/3/2016).
Bị cáo bị bắt ngày 02/02/2024 theo Quyết định truy nã số: 912/QĐTN ngày 02/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Có mặt).
Ngô Quốc T6, sinh năm 1999 tại Đồng Nai;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 63/29, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Trung K và bà Phan Thúy H; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 18/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1669/LC-ĐTTH ngày 18/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. (Có mặt).
Nguyễn Thành N, sinh năm 1991 tại Đồng Nai;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 7A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Số G, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nhân viên nhà hàng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 18/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1666/LC-ĐTTH ngày 18/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. (Có mặt).
Phan Đình D1, sinh năm 1991 tại Nghệ An;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: 1, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đình T7 và bà Phan Thị C (đã chết); vợ là Nguyễn Thị H1, có 02 con sinh năm 2020 và 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 18/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1667/LC-ĐTTH ngày 18/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 12/10/2023, tại quán café A D, đường D, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Đỗ Trần Hoàng L làm chủ, L đã cùng Nguyễn Thành N, Phan Đình D1, Nguyễn Tuấn A, Ngô Quốc T6, Nguyễn Tiến T4 đánh bạc dưới hình thức chơi bài Pocker đổi điểm ăn thua bằng tiền mặt.
Cách thức đánh bạc như sau: Cả nhóm sử dụng tấm thảm Pocker, bộ bài tây 52 lá, 01 cục D2 (cục để xoay vòng ngẫu nhiên). Trong bàn Pocker có 10 ô được chia thành 10 số (đánh số thứ tự 01 đến 10 theo chiều kim đồng hồ). Người chơi ngồi ở vị trí lần lượt như sau: vị trí số 01 bỏ trống không ai ngồi, T4 ngồi vị trí số 02, số 03 bỏ trống, số 04 Tuấn A ngồi, số 05 và 06 bỏ trống, số G T ngồi, số 08 Dương ngồi, số 09 Ngân ngồi, số A L ngồi. Ván đầu tiên, người cầm cái chia mỗi người 01 lá bài để so nước, bài ai lớn nhất thì cục D2 nằm ở chỗ người đó, tiếp theo những ván sau thì cục D2 sẽ xoay vòng từng tụ theo chiều thuận kim đồng hồ, 02 tụ theo thứ tự cùng chiều kim đồng hồ ngồi phía sau cục D2 được đặt trên bàn sẽ phải đặt cược tiền theo dạng đặt chip (tụ đầu sau tụ có cục D2 đặt chip 50 điểm tương ứng 10.000 đồng, tụ thứ 02 sau cục D2 phải đặt chip 100 điểm tương ứng 20.000 đồng). Sau khi chia cho mỗi tụ 02 lá bài, thì tụ phía sau (cùng chiều kim đồng hồ) 02 tụ đã đặt tiền phải xem bài để tố đầu tiên, tụ này có thể bỏ bài, theo 100 điểm của tụ trước hoặc tố thêm. Tụ kế tiếp cũng tương tự như vậy, vòng tố kết thúc tại tụ đặt tiền cược thứ 02 sau cục D2 (tụ đặt 100 điểm). Sau đó người làm cái chia thêm 01 lá bài thứ 04 và ngửa lên mặt, bắt đầu vòng tố giống vòng tố thứ 02 (người bắt đầu là tụ đầu tiên sau cục D2), người cầm cái tiếp tục chia thêm lá bài thứ 05 ngửa lên bàn rồi đến vòng tố cuối cùng cũng tương tự như vậy. Những người theo sau cùng sẽ cùng ngửa hai lá bài của mình lên để ghép với 05 lá đã ngửa trên tạo cho mình 01 bộ 05 lá mạnh nhất. Sau khi đã tạo xong thì các tụ so bài như sau: Thứ tự cao nhất là T8 phá sảnh (bộ năm lá bài liên tiếp đồng chất, thùng phá sảnh chính là sự kết hợp giữa sảnh và thùng, đến Tứ quý (khi giữ 05 lá bài mà trong đó 04 lá giống nhau gọi là tứ quý, ai giữ tứ quý lớn hơn là người thắng), tiếp theo đến Cù lũ (liên kết gồm bộ 03 con cùng số kết hợp với 01 đôi, độ mạnh yếu của Cù lũ sẽ so sánh từ 03 con sau đó đến đôi), đến T8 (05 lá bài đồng chất), đến sảnh (01 dây liên kết không đồng chất), đến Sám cô (bộ C1 quân bài cùng kết hợp 02 lá bài riêng lẻ), đến Thú (lá bài trên tay kết hợp với những lá trên bàn và có 02 đôi), đến Đ (lá bài trên tay kết hợp lá bài trên bàn có 02 lá cùng loại gọi là 1 đôi), thấp nhất là Mậu thầu (trong tay không thể kết hợp với bất kỳ đôi bài nào). Sau khi so bài thì ai cao nhất là người thắng và lấy hết tiền tố lẫn tiền sàn, nếu bằng điểm nhau sẽ chia đều cho người chơi bằng điểm.
Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc L, T6, N, Tuấn A, D1 đang đánh bạc thì bị Công an phường T bắt quả tang còn Nguyễn Tiến T4 bỏ trốn, thu trên chiếu bạc: 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm thảm cao su màu đen dùng để chơi Pocker kích thước 1m2 x 2m4 và tổng số chíp đang dùng để đánh bạc là 113 chíp (phỉnh), cụ thể quy đổi như sau:
18 chíp loại 50 điểm/1 phỉnh = 900 điểm (1 điểm = 200 đồng), quy đổi ra tiền = 180.000 đồng;
56 chíp loại 100 điểm/1 phỉnh = 5.600 điểm (1 điểm = 200 đồng), quy đổi ra tiền = 1.120.000 đồng;
25 chíp loại 500 điểm/1 phỉnh =12.500 điểm (1 điểm = 200 đồng), quy đổi ra tiền = 2.500.000 đồng;
11 chíp loại 1000 điểm/phỉnh = 11.000 điểm (1 điểm = 200 đồng), quy đổi ra tiền = 2.200.000 đồng;
03 chíp loại 5000 điểm/phỉnh = 15.000 điểm (1 điểm = 200 đồng), quy đổi ra tiền = 3.000.000 đồng.
Tổng điểm của các phỉnh tang vật là 45.000 điểm, quy đổi ra tiền là 9.000.000 đồng, tất cả số tiền này sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Quá trình điều tra xác định các đối tượng sử dụng số tiền đánh bạc từng người cụ thể như sau:
Đỗ Trần Hoàng L sử dụng 15.000 điểm chíp, quy đổi ra tiền bằng 3.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc;
Nguyễn Tuấn A sử dụng 10.000 điểm chíp, quy đổi ra tiền bằng 2.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc;
Nguyễn Tiến T4 sử dụng 5.000 điểm chíp, quy đổi ra tiền bằng 1.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc;
Phan Đình D1 sử dụng 5.000 điểm chíp, quy đổi ra tiền bằng 1.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc;
Ngô Quốc T6 sử dụng 5.000 điểm chíp, quy đổi ra tiền bằng 1.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc.
Nguyễn Thành N sử dụng 5.000 điểm chíp, quy đổi ra tiền bằng 1.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc.
Vật chứng thu giữ:
- Liên quan đến hành vi phạm tội:
+ Dụng cụ sử dụng đánh bạc gồm: 02 bộ bài tây 52 lá; 01 cục D2; 01 tấm thảm màu đen dùng để chơi Pocker kích thước 1m2 x 2m4; 113 chíp phỉnh các mệnh giá khác nhau dùng để đánh bạc (18 chíp loại 50 điểm/1 phỉnh, 56 chíp loại 100 điểm/1 phỉnh, 25 chíp loại 500 điểm/1 phỉnh, 11 chíp loại 1000 điểm/phỉnh, 03 chíp loại 5.000 điểm/phỉnh).
+ Thu số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc: Đỗ Trần Hoàng L 3.000.000 đồng, Nguyễn Tuấn A 2.000.000 đồng, Nguyễn Thành N 1.000.000 đồng, Phan Đình D1 1.000.000 đồng, Ngô Quốc T6 1.000.000 đồng, Nguyễn Tiến T4 1.000.000 đồng.
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, số I: 353100102400034 là công cụ T6 sử dụng để chuyển tiền đánh bạc; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số I: 358626090469115 là công cụ L sử dụng để chuyển tiền đánh bạc.
+ 329 chip phỉnh các mệnh giá khác nhau (công cụ sử dụng đánh bạc) nhưng chưa đưa vào sử dụng đánh bạc (14 chip loại 10 điểm/01 phỉnh, 99 chip loại 20 điểm/phỉnh, 57 chip loại 50 điểm/phỉnh, 74 chip loại 100 điểm/phỉnh, 25 chip loại 1000 điểm/phỉnh, 40 chip loại 5000 điểm/phỉnh, 20 chip loại 500 điểm/phỉnh).
- Tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội:
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, số Imei 353888107435704 và 112.000 đồng của Nguyễn Tuấn A, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Tuấn A;
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu đen, số Imei: 354741662055087 và số tiền 1.251.000 đồng thu trên người Phan Đình D1, đây là tài sản riêng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho D1;
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo dung lượng 32GB, số Imei: 868613044994912 và 01 ví da màu nâu có ghi chữ “Art Bomshi Art”. Đây là tài sản riêng của Nguyễn Thành N không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho N;
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu S Flip 5G, số Imei 353417575195127 và số tiền 1.000.000 đồng thu trên người Đỗ Trần Hoàng L. Đây là tài sản riêng của L không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho L.
Tại Cáo trạng số: 166/CT/VKS-BH ngày 19/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Đỗ Trần Hoàng L và đồng phạm về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
+ Bị cáo Đỗ Trần Hoàng L từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
+ Bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng;
+ Bị cáo Ngô Quốc T6 và Nguyễn Thành N từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
+ Bị cáo Phan Đình D1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T4 từ 06 tháng đến 01 năm tù.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không bào chữa và tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về việc vắng mặt bị cáo Nguyễn Tuấn A tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Tuấn A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Tuấn A.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tội danh và hình phạt:
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận: Từ khoảng 12 giờ 30 đến 13 giờ 30 ngày 12/10/2023, tại quán C2, đường D, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Đỗ Trần Hoàng L làm chủ, L đã cùng Nguyễn Thành N, Phan Đình D1, Nguyễn Tuấn A, Ngô Quốc T6, Nguyễn Tiến T4 đánh bạc dưới hình thức chơi bài Pocker đổi điểm ăn thua bằng tiền mặt. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.000.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người trưởng thành, có đủ nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, cùng rủ rê thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo L sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình cho đánh bạc, chuẩn bị công cụ và đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của L là cao nhất. Tính chất, mức độ của Tuấn A cao hơn T6, D1, N, T4 do sử dụng số tiền đánh bạc cao hơn. T6, D1, N, T4 tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội là ngang nhau.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo L, D1, Tuấn A, T6, N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự.
Bị cáo D1 có cha là thương binh hạng ¼ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, xét thấy các bị cáo L, D1, Tuấn A, T6, N có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú các bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật nên Hội đồng xét xử xử phạt tiền cũng đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo T4 đã từng bị xử phạt tù về tội “Đánh bạc”, sau khi phạm tội bỏ trốn thể hiện bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên Hội đồng xét xử xử phạt tù đối với bị cáo. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Về vật chứng:
+ 02 bộ bài tây 52 lá, 01 cục D2, 01 tấm thảm màu đen dùng để chơi Pocker kích thước 1m2 x 2m4 và 442 chíp phỉnh các loại là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ;
+ Số tiền 9.000.000 đồng (Đỗ Trần Hoàng L 3.000.000 đồng, Nguyễn Tuấn A 2.000.000 đồng, Nguyễn Thành N 1.000.000 đồng, Phan Đình D1 1.000.000 đồng, Ngô Quốc T6 1.000.000 đồng, Nguyễn Tiến T4 1.000.000 đồng) các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, số Imei: 353100102400034 của T6 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số Imei: 358626090469115 của L sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí:
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Trần Hoàng L, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tiến T4, Ngô Quốc T6, Nguyễn Thành N, Phan Đình D1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Đỗ Trần Hoàng L 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T6 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Phan Đình D1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T4 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tây 52 lá; 01 cục D2; 01 tấm thảm màu đen dùng để chơi Pocker kích thước 1m2 x 2m4; 442 chíp phỉnh các loại;
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, số Imei: 353100102400034; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số I: 358626090469115.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/4/2024 và Biên lai thu tiền số: 0002201 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc mỗi bị cáo Đỗ Trần Hoàng L, Nguyễn Tiến T4, Ngô Quốc T6, Nguyễn Thành N, Phan Đình D1 và Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Đỗ Trần Hoàng L, Nguyễn Tiến T4, Ngô Quốc T6, Nguyễn Thành N, Phan Đình D1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo Nguyễn Tuấn A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hoàng Long |
Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 294/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trần Hoàng L + ĐP
