TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 294/2024/DS-ST Ngày 12-9-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh giới đất) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 528/2023/TLST-DS ngày 09/11/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh giới đất)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-DS ngày 08/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1990; thường trú: Số F, đường B, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Văn M, sinh năm 1987; địa chỉ: Số H đường M, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Anh T1, sinh năm 1989; thường trú: Số F, đường B, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: Số H đường M, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1985 và bà Phan Thị D, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: Số G, đường B, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Ông Lưu Minh T2, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Số F, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày:
Tháng 05/2022 bà Hoàng Thị T có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Nguyễn Thị D1 quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1949, tờ bản đồ số 8, diện tích 98.4m² tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng 2.000.000.000 đồng, vợ chồng bà T mua thì vợ chồng bà D1 bớt cho 20.000.000 đồng. Quá trình tìm hiểu để ký hợp đồng chuyển nhượng, bà T có xuống xem đất và hai bên thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không tiến hành đo đạc thực tế mà chỉ trích lục bản đồ địa chính. Ranh giới thửa đất nhận chuyển nhượng là một đường thẳng, chiều dài phía Tây giáp ranh phía nhà ông Đoàn Văn Đ có cạnh dài 25.47m, phía Đông giáp đất nhà ông M có cạnh dài 23.87m, phía bắc giáp đường đất với chiều ngang 4.2m, phía nam giáp đất nhà ông Đ và bà Huỳnh Thị H1 với chiều ngang 4m. Khi nhận bàn giao đất, giữa bà T và chủ cũ không thực hiện cắm mốc giới thửa đất mà chỉ kéo thước tay, ranh giới được xác định từ mép tường nhà của ông M kéo qua phần đất trống. Căn nhà của bị đơn đã được xây dựng trước khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng thửa đất và giữ nguyên hiện trạng cho đến nay. Bà T đã thanh toán đủ tiền, nhận đất quản lý sử dụng và được Sở tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số CS10597, cập nhật biến động lần cuối ngày 02/6/2022.
Sau này bà T có nhu cầu xây dựng tường rào thì phát hiện diện tích, kích thước thửa đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thiếu, nguyên nhân do ông Phan Văn M xây dựng tường nhà lấn sang đất của bà T. Bà T có gặp gia đình ông M để thỏa thuận theo hướng sẽ liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố D để yêu cầu xác định ranh giới mốc giới nhưng ông M không đồng ý với lý do không có thời gian. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phan Văn M phải tháo dỡ, di dời một phần tường nhà cấp 4 xây lấn và trả cho bà T phần đất đã lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 5.7m² thuộc một phần thửa đất 1949, tờ bản đồ 8 tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Trường hợp, việc tháo dỡ một phần căn nhà sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của ngôi nhà thì đề nghị ông M thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất đã lấn chiếm của bà T.
* Tại bản tự khai ngày 01/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà L là vợ của ông Phan Văn M. Quyền sử đụng đất vợ chồng bà đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn H và bà Phan Thị D, diện tích chuyển nhượng 87.2 m², thuộc một phần thửa đất số 1922, tờ bản đồ số 3BA.1 tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào năm 2015. Mọi thủ tục chuyển nhượng đều do ông M làm nên bà L không biết giá chuyển nhượng là bao nhiêu. Thời điểm nhận chuyển nhượng là đất trống, có đo đạc thực tế hay không bà không biết. Năm 2017, vợ chồng bà tiến hành xây dựng nhà để ở, việc xây dựng nhà có xin phép chính quyền địa phương. Ông, bà xây dựng nhà đúng ranh giới trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Thời điểm xây dựng không có ai có ý kiến gì về việc xây dựng sai ranh đất. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì gia đình bà không đồng ý. Trước đây quyền sử dụng đất của gia đình bà có thế chấp tại Ngân hàng TMCP T3, tuy nhiên đã tất toán khoản vay, giải chấp tài sản. Hiện tại chỉ có hai vợ chồng bà sinh sống trên đất, ngoài ra không còn ai.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Anh T1 trình bày: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1949, tờ bản đồ số 8, diện tích 98.4m² tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà D1. Thời điểm gia đình ông xây dựng tường rào mới phát hiện gia đình ông M xây tường nhà lấn sang đất của gia đình ông với diện tích theo đo đạc thực tế 5.7m². Nay ông T1 thống nhất với toàn bộ yêu cầu và ý kiến của bà T. Trường hợp Tòa án buộc ông M thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất đã lấn chiếm thì ông T1 đồng ý để cho bà T nhận.
* Tại bản tự khai ngày 31/5/2024, người làm chứng ông Lê Văn H và bà Phan Thị D trình bày: Ông Lê Văn H và bà Phan Thị D là chủ quyền sử dụng đất hơn 300m², tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nguồn gốc quyền sử dụng đất nêu trên là do nhận chuyển nhượng của người khác (không nhớ nhận chuyển nhượng từ ai). Thời điểm nhận chuyển nhượng là đất trống và không còn nhớ giá nhận chuyển nhượng là bao nhiêu. Vì không có nhu cầu sử dụng nên ông, bà đã tách và chuyển nhượng cho người khác. Thời gian đã lâu nên không còn nhớ chuyển nhượng cho những ai. Nay, việc chuyển nhượng đã hoàn thành, vợ chồng ông, bà đã nhận tiền và bàn giao đất cho những người mua. Do đó, đề nghị Tòa án không đưa vợ chồng ông, bà vào tham gia tố tụng trong vụ án. Ngoài ra, vợ chồng ông, bà thường xuyên bận việc nên xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án.
* Người làm chứng ông Lưu Minh T2 và bà Nguyễn Thị D1 trình bày: Vợ chồng ông, bà là chủ quyền sử dụng đất diện tích 98.4m², thuộc thửa đất số 1949, tờ bản đồ số 8, tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quyền sử dụng đất nêu trên có nguồn gốc nhận chuyển nhượng vào tháng 12/2021. Giá chuyển nhượng hơn 1.000.000.000 đồng, nhận chuyển nhượng đất trống không có tài sản trên đất. Thời điểm nhận chuyển nhượng hai bên không tiến hành đo đạc lại mà chỉ trích lục bản đồ địa chính và chuyển nhượng hết sổ. Ông, bà đã nhận đất và giao đủ tiền cho bên người bán. Khi bàn giao đất hai bên không có tiến hành cắm ranh, mốc bàn giao trên thực tế. Thời điểm đó giáp ranh giữa đất ông bà mua và ông M có tường nhà của ông M làm ranh còn xung quanh là đất trống nên ông, bà cũng không nghĩ đến việc đất thiếu hay đủ. Đến năm 2022 khi ông, bà chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà T cũng không có đo đạc thực tế mà chuyển nhượng hết sổ. Việc chuyển nhượng giữa vợ chồng ông và vợ chồng bà T đã hoàn tất, ông, bà đã nhận đủ tiền chuyển nhượng và bàn giao đất nên đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án. Do ông, bà bận công việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông, bà.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thể hiện: Quyền sử dụng đất, diện tích 5.7m² (3.4m² ODT và 2.3m² BHK) thuộc thửa số 1949, tờ bản đồ số 8 tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương có tổng giá trị 131.000.000 đồng [3.4m² ODT x 25.000.000đ/m² + 2.3m² BHK x 20.000.000đ/m²]; Tài sản gắn liền trên đất: Một phần nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu khung cột + sàn bê tông cốt thép, mái tole, tường gạch xây tô diện tích 5.7m² của ông M, giá trị sử dụng thực tế còn lại 13.921.110 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Hoàng Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Anh T1 đã chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn ông Phan Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn ông Phan Văn M và bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Những người làm chứng ông Lê Văn H, bà Phan Thị D, ông Lưu Minh T2 và bà Nguyễn Thị D1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ các Điều 227, 228 và 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người có tên nêu trên là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Bị đơn ông Phan Văn M và bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
- [1.2] Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, căn cứ Điều 77 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xác định thêm người làm chứng là ông Lưu Minh T2, bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Văn H và bà Phan Thị D. Ngoài ra, những người làm chứng nêu trên đã cung cấp lời khai và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt những người làm chứng có tên nêu trên.
- [1.3] Những người làm chứng có giao nộp thêm một số tài liệu chứng cứ và Tòa án thu thập thêm chứng cứ trong giai đoạn ngừng phiên tòa, hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 109 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thực hiện việc tiếp cận, công khai chứng cứ bằng hình thức niêm yết công khai cho các đương sự vắng mặt và công bố tại phiên tòa cho các đương sự có mặt. Các đương sự không có ý kiến và yêu cầu gì.
- [1.4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập nguyên đơn bà Hoàng Thị T, bị đơn ông Phan Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, ông Vũ Anh T1 tham gia xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc để xác định ranh giới, mốc giới giữa thửa đất của nguyên đơn (1949) và bị đơn (1950). Tuy nhiên, ông M và bà L không hợp tác nên không thể xác định được ranh giới, mốc giới và diện tích đất của bị đơn. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành đo đạc phần đất của nguyên đơn, phần đất tranh chấp và đối chiếu bản đồ địa chính để làm căn cứ giải quyết vụ án. Theo đó, diện tích đất tranh chấp 5.7m² (3.4m² ODT và 2.3m² BHK), thuộc một phần thửa đất số 1949, tờ bản đồ số 8 tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương hiện ông M đang quản lý, sử dụng và xây dựng tường nhà.
- [1.5] Tại đơn khởi kiện, bà T yêu cầu ông Phan Văn M tháo dỡ, di dời một phần tường nhà cấp 4 xây lấn và trả cho bà T phần đất đã lấn chiếm là 7.2m² thuộc một phần thửa đất 1949, tờ bản đồ 8 tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, diện tích đất theo đo đạc thực tế là 5.7m² nên nguyên đơn đã xác định lại yêu cầu khởi kiện, theo đó, buộc ông Phan Văn M tháo dỡ một phần nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu khung cột + sàn bê tông cốt thép, mái tole, tường gạch xây tô diện tích theo 5.7m² trả lại cho nguyên đơn phần đất bị lấn chiếm là 5.7m². Việc xác định lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho đúng với diện tích thực tế và thể hiện ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Nội dung:
- [2.1] Nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng bà Nguyễn Thị D1 theo hình thức nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do thủ tục nhận chuyển nhượng không bắt buộc phải đo đạc thực tế nên nguyên đơn không yêu cầu. Quá trình sử dụng đất nguyên đơn phát hiện diện tích đất của nguyên đơn bị giảm do căn nhà của ông M đang sử dụng xây lấn qua phần đất của nguyên đơn. Sau khi phát hiện sự việc nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu ông M tháo dỡ, di dời một phần căn nhà để trả lại phần đất lấn chiếm nhưng ông M không thực hiện nên đã phát sinh tranh chấp.
- [2.2] Xét nguồn gốc sử dụng các thửa đất:
- [2.2.1] Thửa đất 1949 của bà Hoàng Thị T và thửa đất số 1950 của ông Phan Văn M có nguồn gốc từ thửa đất 1922 của ông Lê Văn H và bà Phan Thị D với tổng diện tích 315.7m²; Năm 2015 vợ chồng ông H làm thủ tục xin tách một phần thửa đất số 1922 thành thửa đất số 1950, diện tích 87.2m² và chuyển nhượng cho ông Phan Văn M; Năm 2015 tiếp tục làm thủ tục xin tách một phần thửa đất số 1922 thành thửa đất số 1951, diện tích 130.1m² và chuyển nhượng; Diện tích 98.4m² còn lại, ông H xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đó thửa đất mới được cấp đổi là thửa số 1949 và đến tháng 12/2016 chuyển nhượng hết thửa đất đã được cấp đổi; đến tháng 5/2022 bà T nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị D1 thửa đất 1949 nêu trên.
- [2.2.2] Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1949 và 1950: Tháng 7/2015, ông H thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất còn lại 98.4m², Tại thời điểm xin cấp đổi giấy chứng nhận, ông H có tiến hành đo đạc thực tế và thể hiện qua Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 13/12/2016, theo đó phía Bắc giáp đường đất có cạnh ngang 4.2m, phía Nam giáp thửa đất 1717 có cạnh ngang 4m, phía Đông giáp thửa đất 1950 có cạnh chiều dài 23.87m, phía Tây giáp thửa đất 1711 có cạnh dài 25.47m. Tháng 05/2022 bà Hoàng Thị T nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên của bà Nguyễn Thị D1 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10597 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/5/2022 tại Văn phòng C. Đối với thửa đất 1950, diện tích 87,2m² ông Phan Văn M nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn H, bà Phan Thị D và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS34130 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 27/6/2015. Hai thửa đất 1949 của nguyên đơn và 1950 của bị đơn giáp ranh nhau. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai thửa đất nêu trên dựa trên số liệu đo đạc chính quy của cơ quan chuyên môn nên bảo đảm chính xác về diện tích đất và ranh giới đất giữa hai thửa đất này. Theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung”. Do đó, căn cứ vào diện tích đất và ranh giới đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể xác định được phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của ai.
- [2.2.3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành đo đạc diện tích thửa đất 1949 theo sự chỉ ranh của phía nguyên đơn. Riêng thửa đất 1950 không đo đạc được do phía ông M không hợp tác. Kết quả đo đạc thực tế được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D xác lập ngày 12/8/2024 đã xác định được ranh giới giữa thửa đất của nguyên đơn (1949) và thửa đất của bị đơn (1950). Theo đó, phần đất tranh chấp có ký hiệu “A1” có diện tích 5,7m² (3.4m² ODT và 2.3m² BHK) thuộc thửa đất số 1949 (của nguyên đơn), hiện tại ông M đã xây dựng tường nhà trên phần đất tranh chấp ký hiệu “A1”. Nếu chưa tính phần đất tranh chấp diện tích 5,7m² thì diện tích thửa đất (1949) mới chỉ có 92,7m², thiếu 5.7m². Như vậy, nếu tính cả phần đất tranh chấp 5,7m² thì nguyên đơn mới đủ diện tích đất 98,4m² [92,7m² + 5,7m²] và đúng với hình thể, kích thước thửa đất mà bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- [2.2.4] Đối với một phần căn nhà của bị đơn xây dựng lấn sang đất của nguyên đơn. Thời điểm xây dựng căn nhà ông M được cấp giấy phép xây dựng theo quy định, quá trình xây dựng không bị xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực này nhưng khi tiến hành xây dựng không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định ranh giới đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận dẫn đến việc xây dựng không đúng ranh giới được cấp, lấn sang đất của bà T 5.7m². Việc ông M xây dựng nhà lấn chiếm sang đất của bà T đã làm ảnh hưởng đến hình thể và diện tích thửa đất của bà T. Do đó, bà T yêu cầu khởi kiện buộc ông M tháo dỡ một phần căn nhà trả lại cho bà T diện tích đất bị lấn chiếm 5.7m² là có cơ sở. Tuy nhiên, quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ căn nhà của ông M xây dựng là nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu khung cột + sàn bê tông cốt thép, mái tole, tường gạch xây tô. Phần nhà xây lấn qua đất của nguyên đơn là phần gắn liền với toàn bộ kết cấu của căn nhà không thể tách rời. Nếu buộc ông M phải tháo dỡ phần công trình xây dựng trên diện tích đất 5.7m² của ông M sẽ làm phá vỡ toàn bộ kết cấu căn nhà, ảnh hưởng đến công năng sử dụng của căn nhà. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà T cũng đồng ý nhận lại giá trị quyền sử dụng đất bị đơn lấn chiếm trong trường hợp không tháo dỡ được căn nhà để trả lại đất. Do đó, cần giữ nguyên hiện trạng nhà, đất hiện tại và buộc ông M có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị diện tích đất lấn ranh là 5.7m² (3.4m² ODT và 2.3m² BHK) cho nguyên đơn với số tiền 131.000.000 đồng để bảo đảm quyền lợi của cả hai bên.
[3] Ông Vũ Anh T1 (chồng bà T) xác định, trường hợp Tòa án buộc ông M thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất ông M lấn chiếm cho bà T thì ông T1 không có ý kiến gì, ông T1 đồng ý để cho bà T nhận số tiền trên. Đây là sự tự nguyện của ông T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ, định giá tài sản và trích lục hồ sơ: Bị đơn phải chịu số tiền 9.000.000 đồng. Nguyên đơn đã đóng tiền tạm ứng nên bị đơn phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền này.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 229, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T đối với ông Phan Văn M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh giới đất).
- Buộc ông Phan Văn M phải bồi thường cho bà Hoàng Thị T số tiền 131.000.000đ (một trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ông Phan Văn M được quản lý, sử dụng diện tích đất 5.7m² [Trên đất có một phần nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu khung cột + sàn bê tông cốt thép, mái tole, tường gạch xây tô diện tích 5.7m² ] thuộc một phần thửa đất 1949, tờ bản đồ 8 tọa lạc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 10597 do Sở tài nguyên và Môi trường cấp ngày 27/12/2021, cập nhật biến động lần cuối ngày 02/6/2022. (Vị trí A1 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Buộc ông Phan Văn M phải bồi thường cho bà Hoàng Thị T số tiền 131.000.000đ (một trăm ba mươi mốt triệu đồng).
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố D, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các đương sự để xác định ranh giới quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và trích lục hồ sơ: Bị đơn ông Phan Văn M có trách nhiệm thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Văn M phải chịu 6.550.000đ (sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bà Hoàng Thị T số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007063 ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
5/ Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 294/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh giới đất)
- Số bản án: 294/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh giới đất)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
