Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*****

Bản án số: 294/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02/6/2025

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Chu Thị Tuyết
  2. Ông Đặng Như Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 424/2024/TLST – HNGĐ ngày 14/10/2024 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phí Thị Thanh B, sinh năm 1974

- Bị đơn: Ông Hoàng Thanh T, sinh năm 1975

Cùng HKTT và chỗ ở hiện nay: Số A hẻm A P, phường P, quận T, Hà Nội

Đều vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Phí Thị Thanh B trình bày:

Bà và ông Hoàng Thanh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2002 tại UBND phường Đ, quận H, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vẫn xảy ra và ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không thể hoà hợp và không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân từ năm 2003 đến nay. Mặc dù sống chung một nhà nhưng mỗi người ở một tầng, không ăn chung, không ngủ chung và không ai quan tâm đến ai, việc ai người đó làm.

Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng từ lâu không còn (trên 20 năm sống ly thân), mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà tha thiết xin được ly hôn ông Hoàng Thanh T.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên là Hoàng Tuấn P (nam), sinh ngày 05/9/2002. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.

Về tài sản: Vợ chồng bà tự thoả thuận. Bà không đề nghị Toà án giải quyết về tài sản.

Bà đề nghị Toà án không lấy lời khai của bố mẹ hai bên vì vợ chồng bà đã nhiều tuổi, đủ chín chắn và trưởng thành để tự quyết định các vấn đề của bản thân. Ngoài ra, bố mẹ hai bên đã già yếu nên bà không muốn làm phiền họ.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Ông T không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải.

Tại bản tự khai ngày 11/4/2025, ông T trình bày: Các văn bản tố tụng của Toà án gửi cho ông, ông đều nhận được nhưng do ông chưa quyết định được vấn đề ly hôn và các vấn đề khác nên ông đã không đến Toà làm việc theo giấy triệu tập của Toà. Nay ý kiến của ông như sau: Ông muốn về trao đổi cụ thể với bà B về vấn đề ly hôn cũng như vấn đề tài sản, rồi ông sẽ có ý kiến cụ thể gửi Toà án sau.

Toà án đã ra Thông báo yêu cầu ông Hoàng Thanh T cung cấp cho Toà án văn bản nêu ý kiến của mình như đã trình bày trong bản tự khai cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho ý kiến của mình là có căn cứ, hợp pháp. Tuy nhiên, hết thời hạn thông báo ông T không gửi bất kỳ văn bản hay tài liệu, chứng cứ nào có liên quan.

Trong đơn trình bày đề ngày 16/4/2025, anh Hoàng Tuấn P (con chung của vợ chồng bà B ông T) trình bày: Quá trình chung sống anh nhận thức và thấy được rằng bố mẹ anh có nhiều mâu thuẫn về quan điểm, suy nghĩ và lối sống. Mặc dù cùng chung sống dưới một mái nhà thế nhưng 20 năm nay bố mẹ anh sống ly thân, mỗi người một tầng, không quan tâm tới nhau. Nay mẹ anh xin ly hôn, anh hoàn toàn đồng tình. Anh đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho mẹ anh để bà sớm ổn định cuộc sống mới. Việc bố anh không hợp tác chỉ là vì muốn giữ gia đình về mặt hình thức. Anh không đồng ý với quan điểm của bố vì thực tế cuộc sống hôn nhân của bố mẹ anh không có hạnh phúc.

Tòa án tiến hành làm việc với tổ trưởng tổ dân phố số I, phường P, quận T, Hà Nội, được bà Hoàng Thị T1 cung cấp như sau: Vợ chồng bà Phí Thị Thanh B và ông Hoàng Thanh T sinh sống tại số nhà A hẻm A P, phường P, quận T, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng Bình T2 có mâu thuẫn gì hay không, tổ dân phố không nắm được. Tổ dân phố không thấy vợ chồng báo cáo gì. Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Tuấn P, sinh năm 2002. Về tài sản của vợ chồng, tổ dân phố không nắm được.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Thẩm phán, Thư ký) đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà B, cho bà B được ly hôn ông T2. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Về tài sản, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, bà B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được công khai tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Đối với sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn, bị đơn đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phí Thị Thanh B và ông Hoàng Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2002 tại UBND phường U, quận H, Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và con chung cho thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp. Vợ chồng đã sống ly thân 20 năm nay, không ai quan tâm đến ai.

Nay bà B nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng từ lâu không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên bà tha thiết xin được ly hôn ông T. Mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không có ý kiến cụ thể về việc giải quyết vụ án, ông T cũng không đến Toà án để tham gia phiên hoà giải đoàn tụ, cho thấy ông T là người vô trách nhiệm với cuộc hôn nhân của mình.

Do đó, cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B đối với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Tuấn P (nam), sinh ngày 05/02/2002. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.

Về tài sản: Đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa không xem xét.

Về án phí: Bà B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phí Thị Thanh B đối với ông Hoàng Thanh T. Bà Phí Thị Thanh B được ly hôn ông Hoàng Thanh T.
  2. Về con chung: Bà B, ông T có 01 con chung là Hoàng Tuấn P (nam), sinh ngày 05/9/2002. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.
  3. Về tài sản: Không xem xét
  4. Về án phí: Bà B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ với 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà B đã nộp tại biên lai số 0036524 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: B, ông T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Đồng Tâm,
  • quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 294/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 294/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger