|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 294/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thanh Tâm và ông Trần Văn Xê.
- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trung Tiến-Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 295/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 374/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Hữu N, sinh năm 1986, tại Thành phố Cần Thơ. Nơi thường trú: không có; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa (chỉ biết đọc và viết); dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị H1; chưa có vợ con; tiền án: ngày 08/3/2018, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 14/7/2019 và Quyết định khác ngày 20/9/2019, án tích chưa được xóa); ngày 15/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 07/01/2023, chưa chấp hành các Quyết định khác, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; nhân thân: ngày 14/02/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xử phạt 06 năm tù về “Tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 19/10/2009 và quyết định khác ngày 27/9/2012; đã chấp hành xong phần án phí, phần còn lại thì bên được thi hành án chưa có đơn yêu cầu nên án tích xem như đã được xóa); bị bắt tạm giữ ngày 08-12-2023 (tính theo biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường A, quận B lập lúc 20 giờ 20 phút ngày 08-12-2023), tạm giam từ ngày 18-12-2022 cho đến nay “có mặt”.
Bị hại: chị Nguyễn Ngọc Yến N1, sinh năm 2004. Nơi thường trú và cư trú hiện nay: nhà số B, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh “xin vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ, ngày 08/12/2023, Đặng Hữu N điều khiển xe môtô hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 86B8-511.68 đến Tiệm trà sữa Tutimi tại số C, đường T, phường A, quận B để mua trà sữa. Trong lúc đứng chờ mua hàng, N nhìn thấy nhân viên của T1 trà sữa là chị Nguyễn Ngọc Yến N1 cất chiếc điện thoại di động hiệu Redmi note 11 TPRO, màu xanh vào trong ngăn tủ để hở gần đó rồi lo pha trà sữa bán cho khách nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này để bán kiếm tài tiêu xài. Khi đó, N dùng tay phải lấy chiếc điện thoại của N1 chuyền qua cầm trên tay trái cất vào trong túi quần phía trước bên trái của N rồi đi ra ngoài lên xe định chạy tẩu thoát thì liền bị 02 chị N1 và Võ Thị Thúy N2 (cùng là nhân viên của T1 trà sữa Tutimi) phát hiện nên vừa tri hô lên, vừa nắm kéo N cùng với xe lại. Lúc này, N lấy chiếc điện thoại từ trong túi quần ra trả lại cho N1 rồi định lên xe bỏ chạy thì bị người dân xung quanh bắt giữ cùng với vật chứng giao cho Công an phường A xử lý người có hành vi phạm tội quả tang. Sau khi tiếp nhận sự việc và lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường A đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. oTroiTTadjkasdjkdasjkVKDZVLTại đây, N đã khai nhận toàn bộ hành vi như vừa mới nêu; theo kết luận định giá tài sản, chiếc điện thoại di động của chị N1 trị giá 3.300.000 đồng và đã giao trả lại cho chị N1; riêng về phần vật chứng, 01 xe môtô biển số 86B8-511.68, 01 áo sơ mi, 01 áo khoác, 01 quần Jean, 01 đôi dép và 01 nón bảo hiểm thì tiếp tục còn tạm giữ chờ xử lý sau.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Hữu N đã khai nhận: do trong lúc đứng chờ mua trà sữa tại Tiệm trà sữa T2, bị cáo nhìn thấy chị Nguyễn Ngọc Yến N1 cất chiếc điện thoại di động hiệu Redmi note 11 TPRO, màu xanh vào trong ngăn tủ để hở gần đó rồi lo pha trà sữa bán nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này để bán kiếm tài tiêu xài. Khi đó, bị cáo dùng tay phải lấy chiếc điện thoại của N1 chuyền qua cầm trên tay trái cất vào trong túi quần phía trước bên trái của bị cáo rồi đi ra ngoài lên xe định chạy tẩu thoát thì thì bị bắt giữ cùng với vật chứng giao cho Công an giải quyết nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản của chị N1 và trách nhiệm dân sự; riêng về 01 xe môtô biển số 86B8-511.68, 01 áo sơ mi, 01 áo khoác, 01 quần Jean, 01 đôi dép và 01 nón bảo hiểm của bị cáo thì không yêu cầu trả lại.
Tại Cáo trạng số: 269/CT-VKS, ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Hữu N ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội trộm cắp tài sản”, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Đặng Hữu N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản trị giá 3.300.000 đồng của chị Nguyễn Ngọc Yến N1 và đồng thời, bị cáo đã “Tái phạm”, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lại có nhân thân xấu khác như đã nêu trên nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên không có ý kiến. Còn về vật chứng, đề nghị: tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển số 86B8-511.68; tiêu hủy gồm: 01 áo sơ mi, 01 áo khoác, 01 quần Jean, 01 đôi dép và 01 nón bảo hiểm.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Đặng Hữu N tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 08/12/2023, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Redmi note 11 TPRO, màu xanh của chị Nguyễn Ngọc Yến N1 để trong ngăn tủ tại Tiệm trà sữa Tutimi, số C, đường T, phường A, quận B. Theo Kết luận định giá tài sản số: 436/KL-HĐĐGTS, ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì chiếc điện thoại di động của chị N1 trị giá 3.300.000 đồng; ngoài ra, bị cáo đã “Tái phạm”, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết định khung hình phạt tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, bị cáo Đặng Hữu N đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng; Biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra; hình ảnh trích xuất từ camera ghi nhận lúc bị bị cáo thực hiện hành vi, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm sao cho tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: bị cáo làm nghề tự do và không có điều kiện về kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: xét tuy tại phiên tòa hôm nay, tuy bị hại là chị Nguyễn Ngọc Yến N1 đã có đơn xin vắng mặt, nhưng theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và nội dung đơn thì: do chị N1 đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 xe môtô hiệu Honda SH Mode, biển số 86B8-511.68, SM: JF87E5122792, SK: RLHJF515KZ052766 của bị cáo dùng làm phương tiện đến nơi thực hiện hành vi phạm tội và tẩu thoát, bị cáo khai: xe do mượn của người bạn tên N3 (không rõ lai lịch) và không yêu cầu trả lại; còn theo kết quả xác minh: xe do chị Nguyễn Thị V đứng tên sở hữu và đã cầm chiếc xe này cho tên P (không rõ lai lịch); Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành đăng B chủ sở hữu thực tế của xe, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đến để giải quyết nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Còn đối với 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, áo khoác màu đen, quần Jean màu xám; 01 đôi dép da quai ngang và 01 nón bảo hiểm màu trắng của bị cáo sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội và không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[8] Bị cáo Đặng Hữu N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- - Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Xử phạt bị cáo Đặng Hữu N 03 (ba) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 08-12-2023.
2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô hiệu Honda SH Mode, biển số 86B8-511.68, SM: JF87E5122792, SK: RLHJF515KZ052766.
- - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, áo khoác màu đen, quần Jean màu xám; 01 đôi dép da quai ngang và 01 nón bảo hiểm màu trắng.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/277TV, ngày 26/8/2024)
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đặng Hữu N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo Đặng Hữu N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Nguyễn Ngọc Yến N1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 294/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Hữu N “Tội trộm cắp tài sản”
