TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:294/2024/DS-PT
Ngày: 10-07-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng CNQSD đất và đòi lại quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán: Ông Trương Hoài Bình
Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 07 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 97/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 04 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng CNQSD đất và đòi lại quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2024/DSST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 198/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, TP ..
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, TP .. Có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Châu P, sinh năm 1990; Địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, TP ..
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1995; Địa chỉ số E, đường H, phường T, quận N, TP. (Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2014). Có mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh P: Luật sự Nguyễn Trường T – Văn phòng L2 – Đoàn luật sư T5.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1962; Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, TP .. Có mặt
- Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, TP .. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1955; Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, TP .. Có mặt
- Chị Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, TP .. Đề nghị xét xử vắng mặt
- Văn phòng C. Đề nghị xét xử vắng mặt
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Châu P
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 11 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02660 ngày 06/02/2015 thửa đất 773, diện tích 331m², nhưng bà L chỉ có 131m², ông S là 200m², đối với giấy chứng nhận QSD đất thì ông Nguyễn Đức T3 là em ruột ông S, bà L cất giữ giấy đất.
Từ tháng 06/2019 đến tháng 12/2019 bà L bệnh tai biến rất nặng nên thời gian hầu hết chỉ ở bệnh viện điều trị bệnh. Phía bị đơn ông Nguyễn Châu P cháu ruột bà L1 thời điểm này ở chung cùng với bà L lợi dụng hoàn cảnh của bà L giả chữ ký làm có mất giấy chứng nhận QSD đất và sau đó thuê Văn phòng Công chứng lăn tay bà L vào hợp đồng chuyển nhượng đất cho anh P, trong khi đó thời điểm này bà L bệnh tai biến nặng, không biết gì. Sau này, sức khỏe bà L ổn định, trí nhớ dần dần phục hồi nên làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản của ông P đến Công an điều tra huyện C. Trong khi đó, hợp đồng chuyển nhượng đất chỉ với giá 62.014.000đồng nhưng thực tế giá đất hơn rất nhiều lần và số tiền 62.014.000đồng phía bà L không hề nhận từ anh P. Nay, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện cụ thể:
- Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất Công chứng số 0107, quyển 1/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 09/01/2020 là vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, ép buộc. Yêu cầu bị đơn di dời tài sản trên đất trả lại phần đất diện tích 331m² (trong đó 150m² đất ONT và 181m² đất CLN).
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Châu P có đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Thị G trình bày:
Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi việc bà L chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 773 diện tích 331m² là hoàn toàn tự nguyện, trước sự chứng kiến của công chứng viên, không có sự nhầm lẫn hay lừa dối ép buộc nào. Bà L là cô ruột anh P, không có chồng sống chung cùng với anh P và gia đình anh P từ trước đến nay. Phần đất thửa 773 thuộc QSD đất của bà L và từ lâu bà L đã có ý định giao cho anh P quản lý sử dụng, mục đích để anh P chăm sóc, nuôi dưỡng bà L khi về già. Năm 2017, bà L đã giao toàn bộ thửa đất 773 cho anh P sử dụng và từ đó anh P đã đầu tư tôn tạo mặt bằng, xây dựng quán trên phần đất này, việc đầu tư khoảng 600.000.000đồng. Cùng năm này bà L bị bệnh tim phải phẩu thuật, sau đó bà L bị tai biến, đột quỵ, anh P là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và chi trả toàn bộ chi phí điều trị bệnh. Sau khi phục hồi nên đã chuyển nhượng thửa đất này cho anh P. Do sức khỏe bà L không tốt nên anh P mời Công chứng viên đến tận nhà Công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất theo đúng với ý chí của bà L. Do đó, bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn S về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất Công chứng số 0107, quyển 1/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 09/01/2020 là vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, ép buộc. Không đồng ý trả phần đất diện tích 131m² cho nguyên đơn. Không đồng ý trả lại phần đất diện tích 200m² cho ông S
Tại đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn S trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 773 là của cha mẹ ông là ông Nguyễn Kim S1, mẹ Nguyễn Thị T4 cho ông và bà L (cha mẹ đã chết). Ông thống nhất trình bày của bà L.
Nay, ông có yêu cầu độc lập yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0107, quyển 1/2020/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng là vô hiệu do bị đơn lừa dối, ép buộc bà L ký tên, yêu cầu bị đơn dời dời tài sản trên đất trả cho ông diện tích 200m² ( phần diện tích A theo bản trích đo địa chính).
Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành T1, ông Nguyễn Thanh T2 trình bày:
Hai ông thống nhất với trình bày của nguyên đơn và lời trình bày của ông Nguyễn Tấn S. Phần đất thửa 773 do cha mẹ tặng cho bà L và ông S, tuy nhiên do bà L không có gia đình nên ông S thống nhất để bà L đứng tên. Cháu Nguyễn Châu P có hỏi mượn thửa đất 773 để xây cất tạm bán quán nước nhưng không biết lý do vì sao cháu P gian dối tách sang tên quyền sử dụng đất. Yêu cầu cháu P phải trả lại đất cho bà L và ông S.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim L và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn S đối với bị đơn anh Nguyễn Châu P, chị Nguyễn Thị Thu V.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0107, quyển 1/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 09/01/2020 giữa bà Nguyễn Kim L với anh Nguyễn Châu P là vô hiệu.
- Buộc anh Nguyễn Châu P phải trả lại thửa đất 773, diện tích 331m²cho bà Nguyễn Kim L và ông Nguyễn Tấn S.
- Công nhận cho bà Nguyễn Kim L phần đất diện tích 131m² (vị trí B theo bản trích đo địa chính) một phần thửa 773 do anh Nguyễn Châu P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Công nhận cho ông Nguyễn Tấn Sĩ diện t 200m² (vị trí A theo bản trích đo địa chính) thuộc một phần thửa 773 do anh Nguyễn Châu P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Tấn S có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất với số tiền 202.615.462đồng và được quyền sở hữu các tài sản trên phần đất ông S được công nhận.
Dành quyền khởi kiện cho anh Nguyễn Châu P đối với số tiền trả viện phí cho bà L và tiền chi phí sang lấp mặt bằng thừa 773 nếu phát sinh tranh chấp.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/12/2023 bị đơn anh P kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn S.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn S vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Châu P vắng mặt. Tuy nhiên, luật sư có gửi luận cứ bảo quyền và lợi ích hợp cho bị đơn, nội dung trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn S, bởi lẽ:
- Không có căn cứ xác định bà L chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh P là do ép buộc hay lừa dối.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công chứng hợp pháp trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, có sự chứng kiến của Công chứng viên, các bên giao kết có đủ năng lực hành vi dân sự. Đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015. Đảm bảo về hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013.
- Quá trình sử dụng phần đất tranh chấp: Bà L là cô ruột của anh P, sống chung cùng với gia đình anh P và từ lâu bà L đã có ý định giao phần đất này cho anh P quản lý, sử dụng với mục đích nuôi dưỡng bà L về già vì bà L không có chồng con. Điều đó thể hiện qua việc ngày 07/6/2017 bà L ủy quyền cho anh P quản lý sử dụng đất và anh P đã tôn tạo mặt bằng, xây dựng quán. Cùng năm này bà L bệnh tim phải phẩu thuật, sau đó đột quỵ thì anh P người chăm sóc, chi trả viện phí. Sau khi bà L phục hồi đã chuyển nhượng phần đất này cho anh P. Do sức khỏe bà L không tốt nên anh P mời Công chứng viên đến tận nhà đề Công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đương sự và Tòa án các cấp thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Về nội dung: Cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả tạo là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của ông Nguyễn Châu P, nhận thấy:
Ngày 09/01/2020 bà L lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 773 diện tích 331m² cho anh P và đến ngày 19/02/2020 anh P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía bà L, ông S, ông T2, ông T1 cho rằng anh P lợi dụng bà L bị tai biến nên lừa dối, ép buộc bà L chuyển nhượng đất vì thực tế bà L không có nhận tiền chuyển nhượng đất từ anh P. Trong khi đó anh P cho rằng bà L có ý định giao thửa đất này cho anh từ lâu, khi bà L bệnh mọi chi phí do anh lo và chăm sóc nên bà L chuyển nhượng đất cho anh. Từ đó các bên phát sinh tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Thửa 773 diện tích 331m² có nguồn gốc của cha mẹ bà L cho bà L và ông S. Các anh chị em bà L (gồm: bà L, ông T1, ông S, ông T2) đều thống nhất phần của ông Nguyễn Tấn S được cha tặng cho 200m², bà L 131m², nhưng để cho bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đưa ông Nguyễn Đức T3 giữ giấy đất. Thực tế ông T3 đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02660 ngày 06/02/2015 do bà Nguyễn Kim L đứng tên.
[2.2] Bà L không có chồng con, sống cùng với gia đình ông G (cha anh P) do gia đình anh P chăm sóc. Từ năm 2019-2020 bà L bị bệnh phải mổ tim, sau đó bị bệnh tai biến nặng. Ngày 09/01/2020 bà L lập thủ tục chuyển nhượng thửa 773 cho anh P với giá 62.014.000đồng được Văn phòng Công chứng lăn tay tay nhà để công chứng. Văn phòng Công chứng xác định bà L bị tai biến nằm 01 chổ, không đi lại được, không ký tên được nên yêu cầu điểm chỉ. Bà L khẳng định không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh P, sau khi bà L, ông S biết được anh P cấp giấy đất từ ngày 19/02/2020 thì tháng 3/2020 bà L, ông S phát hiện tố cáo anh P đến Công an huyện C và tranh chấp đến Tòa án cho đến nay. Đều đó chứng minh ý chí bà L không có chuyển nhượng thửa đất hay tặng cho đất thửa 773 cho anh P.
[2.3] Về “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 09/01/2020 có nội dung: bà Nguyễn Kim L chuyển nhượng cho anh Nguyễn Châu P diện tích 331,0m² đất thuộc thửa 773, tờ bản đồ số 4, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ với giá 62.014.000đ, việc giao và nhận tiền do hai bên tự thực hiện, không có sự chứng kiến của Công chứng viên.
Bà Nguyễn Kim L xác định không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Châu P, không thừa nhận chuyển nhượng đất để trừ chi phí điều trị bệnh. Anh Nguyễn Châu P cho rằng anh có công chăm sóc bà L nên bà L chuyển nhượng giá 62.014.000đ như hợp đồng đã ký kết và được khấu trừ vào số tiền thuốc và viện phí của bà L.
Như vậy, anh P đã thừa nhận giá chuyển nhượng thửa đất nói trên ghi trong Hợp đồng 62.014.000đ là giả tạo; giữa bà L với anh P khai không thống nhất về việc chuyển nhượng; bà L cho rằng không có chuyển nhượng hay tặng cho đất anh P, anh P cho rằng bà L chuyển nhượng giá thấp là do anh có công chăm sóc (tại cấp sơ thẩm thì khai là tặng cho nhưng làm hợp đồng chuyển nhượng).
[2.4] Tại Biên bản định giá của Hội đồng định giá ngày 31/5/2022 xác định giá thị trường của phần đất tranh chấp là 4.000.000 đồng/m², tổng giá trị thửa đất là 331,0m² x 4.000.000 đồng = 1.324.000.000 đồng. Như vậy, giá chuyển nhượng ghi trong Hợp đồng là 62.014.000đồng cũng không phù hợp với giá thực tế trên thị trường. Anh P không đưa ra được căn cứ gì chứng minh giá chuyển nhượng đất như anh khai.
[2.5] Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này...”; đồng thời khoản 1 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.
Từ những tình tiết tại đoạn [2.3] và [2.4] nói trên, có cơ sở xác định giá ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 09/01/2020 là giả tạo nhằm che giấu thỏa thuận tặng cho quyền sử dụng đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trừ chi phí tiền thuốc, viện phí. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 398, Điều 501 Bộ luật dân sự năm 2015, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một trong những nội dung bắt buộc của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quá trình tranh tụng, các bên không thống nhất về giá chuyển nhượng thật là bao nhiêu, không xuất trình tài liệu chứng cứ xác định giá thật của hợp đồng chuyển nhượng, tài liệu chứng cứ có thỏa thuận trừ vào chi phi điều trị bệnh, tài liệu chứng cứ về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất...nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu toàn bộ.
Đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn Sĩ diện t 200m² thuộc thửa 773: Phần đất này do bà L đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L thống nhất yêu cầu của ông S, đây là sự tự nguyện của bà L và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[2.6] Xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu: Cấp sơ thẩm buộc anh Nguyễn Châu P, chị Nguyễn Thị Thu V trả lại thửa 773, diện tích 331m² cho bà L và ông S; dành quyền khởi kiện cho ông P đối với chi phí điều trị bệnh cho bà L, chi phí sang lấp thửa đất 773 trong vụ kiện khác (không yêu cầu giải quyết trong vụ án này); đối với các tài sản trên đất anh P đầu tư xây cất nhà tiền chế theo định giá 202.615.400đồng trên phần đất công nhận cho ông S nên buộc ông S thanh toán cho anh P số tiền này là phù hợp.
Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, 117, 124, 131 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 167, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Châu P;
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim L và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn S đối với bị đơn anh Nguyễn Châu P, chị Nguyễn Thị Thu V.
- - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0107, quyển 1/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 09/01/2020 giữa bà Nguyễn Kim L với anh Nguyễn Châu P là vô hiệu.
- - Buộc anh Nguyễn Châu P, chị Nguyễn Thị Thu V phải trả lại thửa đất 773, diện tích 331m²cho bà Nguyễn Kim L và ông Nguyễn Tấn S.
- - Công nhận cho bà Nguyễn Kim L phần đất diện tích 131m² (vị trí B theo bản trích đo địa chính) một phần thửa 773 do anh Nguyễn Châu P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Công nhận cho ông Nguyễn Tấn Sĩ diện t 200m² (vị trí A theo bản trích đo địa chính) thuộc một phần thửa 773 do anh Nguyễn Châu P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Tấn S có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất với số tiền 202.615.462đồng và được quyền sở hữu các tài sản trên phần đất ông S được công nhận.
- Dành quyền khởi kiện cho anh Nguyễn Châu P đối với số tiền trả viện phí cho bà L và tiền chi phí sang lấp mặt bằng thừa 773 nếu phát sinh tranh chấp.
- Kiến nghị Cơ quan cơ thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Châu P số CT 433796, số vào số CS04748 cấp ngày 19/02/2020, đất thuộc thửa 773, tờ bản đồ 04, đất tọa ấp T, xã T, huyện C, TP. để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử đất cho bà L, ông S theo quy định pháp luật về đất đai.
- Vị trí, kích thước, diện tích phần đất công nhận cho bà L, ông S theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập ngày 13/7/2022.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim L đã nộp tạm ứng chi phí đo đạc, định giá là 8.000.000 đồng và chi xong. Buộc anh Nguyễn Châu P có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 8.000.000đồng.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bị đơn anh Nguyễn Châu P phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà Nguyễn Kim L được nhận lại 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009141 ngày 28/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, TP .. Miễn án phí cho ông Nguyễn Tấn S do người cao tuổi.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Anh Nguyễn Châu P phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007820 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ; Anh P đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 294/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng cnqsd đất và đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 294/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng CNQSD đất và đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo cảu ông Ph
