Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 294/2024/DS-PT

Ngày 09 tháng 12 năm 2024

V/v tranh chấp “Đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Giao
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sơn và bà Trịnh Ngọc Thúy
  • Thư ký phiên toà: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 301/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 313/2024/QĐXXPT –DS ngày 25/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 332/2024/QĐPT-DS ngày 21/11/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1977, cư trú: khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1983, cư trú: số D Q, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 28/12/2023) (có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bạch M, sinh năm 1972, cư trú: khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lê Phước H1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thu H2, sinh năm 1980, cư trú: khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).
  6. Người làm chứng:

Bà Trần Thị N, sinh năm 1941, cư trú: khóm T2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1984, cư trú: khóm T2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1982, cư trú: khóm T2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H và đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn P trình bày:

Vào ngày 31/12/2021 bà Nguyễn Thị Cẩm H có chuyển nhượng đất cho bà Lê Thị Thu H2 với diện tích 558m² đất tại thửa số 89, tờ bản đồ số 08 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05276 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/8/2020, đất tọa lạc khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang với giá chuyển nhượng là 2.380.000.000 đồng, nhưng hợp đồng chuyển nhượng công chứng tại Văn phòng C ngày 31/12/2021 ghi giá chuyển nhượng là 67.000.000 đồng. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng xong thì bà H có nhận của bà H2 số tiền 1.000.000.000 đồng, đến ngày 26/01/2022 thì bà H nhận thêm của bà H2 số tiền 380.000.000 đồng, tổng cộng bà H nhận từ bà H2 số tiền 1.380.000.000 đồng. Ngày 28/01/2022 bà H bệnh nặng phải nhập viện điều trị cấp cứu phẫu thuật tại Viện tim Thành phố H, đến ngày 07/3/2022 bà H xuất viện. Trong thời gian này, bà H2 có gọi điện thoại cho bà H để trả số tiền mua đất còn lại do bà H đã sang tên quyền sử dụng đất xong. Bà H có nhờ chị là Nguyễn Thị Bạch M nhận thay số tiền 1.000.000.000 đồng từ bà H2. Khi bà H xuất viện về nhà, ngày 07/3/2022 bà H có yêu cầu bà M giao lại 1.000.000.000 đồng đã nhận từ bà H2 thì bà M không giao tiền và cho rằng bà M có phần trong miếng đất mà bà H chuyển nhượng cho bà H2. Sau đó bà H đã nhiều lần đòi bà M trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng mà bà M nhận dùm thì bà M vẫn không trả. Bà H yêu cầu bà M trả cho bà số tiền 1.000.000.000 đồng.

Trong đơn khởi kiện bà H yêu cầu yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày 15/01/2024 đến ngày Tòa án xét xử vụ án. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút lại yêu cầu tính lãi suất.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch M trình bày:

Bà không đổng ý yêu cầu khởi kiện của bà H, lý do trong diện tích 558m² đất bà H2 chuyển nhượng cho bà H2 trong đó có diện tích ngang 5m, dài một bên 43,92m (sát ông D1), dài một bên 44,60m (sát bà H) của bà. Nguồn gốc đất là của cha mẹ, thời điểm trước đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa bà N và Ủy ban nhân dân thị trấn M tranh chấp đất (khi đó là hầm), khi đó mẹ của bà là Trần Thị N nói nếu ai thưa gửi lấy lại được đất thì bà

N cho ½ cái hầm. Sau đó nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N diện tích hơn 5.000m², khi đó bà N cho bà H ½ cái hầm chứ không xác định rõ diện tích và cho người anh thứ tư tên Nguyễn Văn T1 diện tích ngang 5m, dài một bên 43,92m (sát ông D1), dài một bên 44,60m (sát bà H). Ông T1 không sử dụng mà bán lại cho bà toàn bộ diện tích đất ông T1 được bà N cho với giá 650.000.000 đồng, đất này ông T1 và bà M đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi được mẹ cho đất, bà H phân nền bán cho nhiều người trong đó có phần của bà H2 diện tích hơn 500m². Tuy nhiên, trong diện tích bà H chuyển nhượng cho bà H2 trong đó có phần diện tích đất bà đã nhận chuyển nhượng từ ông T1. Khi giao dịch, bà H, bà H2 và bà M đều thống nhất phần đất của bà trị giá 1.000.000.000 đồng. Do đó, trong số tiền chuyển nhượng đất giữa bà H và bà H2 là số tiền 2.380.000.000 đồng, có 1.000.000.000 đồng là của bà. Số tiền 1.000.000.000 đồng bà đã nhận đủ từ bà H2 do đó bà không đồng ý trả lại cho bà H.

Vào khoảng năm 2021, bà H có nhờ bà mượn nợ dùm số tiền 600.000.000 đồng, số tiền này mượn nhiều lần, bà vay của Huỳnh Xuân D2 200.000.000 đồng, của ông Dương Nhân Q số tiền 200.000.000 đồng và của ông Nguyễn Minh M1 số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi bà vay thì bà đem tiền về cho bà H, không làm giấy tờ. Hiện nay bà đã trả đủ vốn 600.000.000 đồng và lãi suất cho các chủ nợ là 3%/tháng. Nay bà yêu cầu bà H trả số tiền 600.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M rút lại yêu cầu phản tố buộc bà H trả số tiền 600.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu H2 trình bày:

Vào tháng 9 năm 2021 bà đến Ủy ban nhân dân thị trấn M cùng với bà Nguyễn Thị Cẩm H, Nguyễn Thị Bạch M để thỏa thuận mua bán diện tích đất 558m² tọa lạc thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang với giá 2.380.000.000 đồng. Tại thời điểm đó, bà đặt cọc 1.000.000.000 đồng giao cho bà H và bà M, biên nhận là bà H ký nhận 1.000.000.000 đồng. Diện tích đất 558m² là bà H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là người đứng ra chuyển nhượng với bà. Bà H thỏa thuận với bà khi nào làm thủ tục sang tên xong thì bà sẽ trả số tiền còn lại là 1.380.000.000 đồng. Thời gian chờ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H nhận thêm 380.000.000 đồng, số tiền còn lại 1.000.000.000 đồng thỏa thuận khi nào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho bà thì bà sẽ giao đủ. Diện tích đất 558m² bà chỉ biết bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là người chuyển nhượng cho bà, còn về nguồn gốc đất bà H có từ đâu thì bà không biết. Số tiền còn lại 1.000.000.000 đồng lẽ ra bà phải giao cho bà H, nhưng bà M có điện thoại cho bà nói giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có rồi, nói với bà đưa 1.000.000.000 đồng cho bà M để đem tiền cho bà H đi mổ tim, nhưng bà không đồng ý và có nói với bà M là bà H phải điện cho bà thì bà mới giao. Sau đó bà H có điện thoại cho bà và nói đưa 1.000.000.000 đồng cho bà M, khi đó bà có giao tiền cho bà M 1.000.000.000

đồng, bà Bạch M có ký nhận và có người làm chứng là bà Nguyễn Thị Trúc M2. Sau khi bà H xuất viện về, bà có gặp bà H hỏi là số tiền 1.000.000.000 đồng bà đưa cho bà M2 thì bà có nhận chưa thì bà H nói đã nhận rồi. Sau đó bà có yêu cầu bà H xuống Ủy ban nhân dân thị trấn M để xác định bà H đã nhận đủ số tiền trước và sau 2.380.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H đối với bà M2 thì bà không có ý kiến gì. Do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới đã xử: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều năm 228, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015:

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H. Buộc bà Nguyễn Thị Bạch M có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
  • - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với bà Nguyễn Thị Bạch M về việc yêu cầu tính lãi suất 10%/năm của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày 15/01/2024 đến ngày Tòa án xét xử vụ án.
  • - Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch M về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H trả số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo và thời hạn yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 12/9/2024 bà M có đơn kháng cáo bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

  • * Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có ý kiến: Qua tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H yêu cầu bà M trả số tiền 1.000.000.000 đồng nhưng trong phần đất 558m² bà H chuyển nhượng cho bà H2 có phần đất 221,3m² là của bà M.
  • - Bà M không có nhận bất cứ một khoản tiền nào từ bà H, chỉ nhận 1.000.000.000 đồng từ bà H2.
  • - Ông Nguyễn Văn Ừ và bà Trần Thị N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05276 vào ngày 10/8/2020 nhưng đến ngày 31/8/2020 đã được tặng cho bà H, đề nghị xem xét lại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Ừ, bà N và bà H.
  • - Chứng cứ có tại hồ sơ là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H với bà H2 do Văn phòng C chứng nhận ngày 31/12/2021 là 67.000.000 đồng, theo đơn khởi kiện bà H và bà H2 thỏa thuận giá 2.380.000.000 đồng, có căn cứ xác định là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mặt khác, bà H và bà H2 có hành vi vi phạm pháp luật là

trốn thuế nên công chứng trong hợp đồng chuyển nhượng 67.000.000 đồng và thỏa thuận giá thực tế 2.380.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận tranh chấp đòi tài sản của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với bà Nguyễn Thị Bạch M.

  • * Bị đơn thống nhất ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không có ý kiến bổ sung
  • * Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị đơn đều thừa nhận có nhận tiền 1.000.000.000 đồng của bà H2, đây là khoản tiền bà H2 trả cho bà H theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/12/2017, bà H nhờ bà M nhận thay do trong thời gian đó bà H đang điều trị bệnh. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bạch M; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo:
    1. [1.1] Về thời hạn kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch M làm đơn kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
    2. [1.2] Sự có mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lê Thị Thu H2 có đơn xin xét xử vắng mặt, một số người làm chứng dược Tòa án triệu tập hợp lệ, vắng mặt, nhưng đã có lời trình bày trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
    3. [1.3] Quan hệ tranh chấp: Việc người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện của bà H yêu cầu bà M trả số tiền 1.000.000.000 đồng cùng với lãi suất theo quy định của pháp luật. Giữa bà H và bà H2 đều xác nhận đã thực hiện xong hợp đồng chuyển nhượng, không tranh chấp; bà H chỉ tranh chấp đòi bà M số tiền 1.000.000.000 đồng nhận thay nhưng không trả. Cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 166 Bộ luật dân sự

năm 2015 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp Đòi tài sản là đúng quy định của pháp luật.

  1. [2] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
    1. [2.1] Bà Nguyễn Thị Cẩm H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Bạch M trả cho bà H số tiền 1.000.000.000 đồng do bà M nhận dùm tiền chuyển nhượng đất giữa bà H và bà Lê Thị Thu H2.
    2. Bà M thừa nhận có nhận số tiền 1.000.000.000 đồng từ bà H2. Tuy nhiên, đây là tiền bà chuyển nhượng phần diện tích đất của bà cho bà H2. Trên thực tế, diện tích 558 m² bà H chuyển nhượng cho bà H2 có một phần diện tích của bà. Diện tích đất này bà nhận chuyển nhượng từ anh ruột là Nguyễn Văn T1 với giá 650.000.000 đồng. Khi bà H2 nhận chuyển nhượng đất của bà H, không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có thương lượng bà chuyển nhượng luôn phần đất của bà, bà đồng ý. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ có bà H ký tên, do trước đó Trần Thị N (mẹ bà H và bà M) hứa cho bà H ½ diện tích đất tranh chấp với Ủy ban nhân dân thị trấn M và bà H đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

      Hội đồng xét xử nhận thấy, bà M cho rằng diện tích đất bà H chuyển nhượng cho bà H2 có một phần diện tích đất của bà nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn T1 (có nguồn gốc từ mẹ là Trần Thị N cho). Tuy nhiên, bà M không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà M được quyền sử dụng diện tích đất này cũng như không cung cấp được thỏa thuận cùng bà H chuyển nhượng đất cho bà H2.

      Tuy nhiên, bà M thừa nhận có nhận số tiền 1.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết ngày 31/12/2021 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Lê Thị Thu H2 do bà H2 giao (có biên nhận).

      Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/6/2024 bà H2 xác định diện tích đất 558m² bà chỉ biết bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là người chuyển nhượng cho bà, còn về nguồn gốc đất bà H có từ đâu thì bà không biết.

      Do đó, cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị Bạch M trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 1.000.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

      Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bà M kháng cáo nhưng không có có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

    3. [2.2] Đối với yêu cầu đề nghị xem xét lại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số CH05276 giữa ông Nguyễn Văn Ừ, bà Trần Thị N với bà Nguyễn Thị Cẩm H.

Theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung dung kháng cáo. Tuy nhiên, tại Bản án số 131/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới không thụ lý, giải quyết yêu cầu tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nên không có cơ sở để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo của bà M.

  1. [2.3] Đối với yêu cầu truy thu thuế và xem xét trách nhiệm đối với hành trốn thuế của bà H và bà H2. Đây là yêu cầu không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
  1. [3] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên bà M phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  2. [4] Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Bạch M; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Bạch M có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với bà Nguyễn Thị Bạch M về việc yêu cầu tính lãi suất 10%/năm của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày 15/01/2024 đến ngày Tòa án xét xử vụ án.
  4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch M về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H trả số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.
  5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Cẩm H được hoàn lại số tiền 21.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015106 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 02 năm 2024.

Bà Nguyễn Thị Bạch M phải nộp 42.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 14.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015608 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 13 tháng 6 năm 2024. Bà M còn phải nộp thêm 28.000.000 đồng

  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Bạch M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013249 ngày 12/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (đã nộp xong).
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - TAND huyện Chợ Mới (2);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1) ;
  • - Tòa Dân sự (1);
  • - Phòng KTNV và THA (1);
  • - Các đương sự (3);
  • - Lưu: HS, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Giao

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

Trịnh Ngọc Thúy

Nguyễn Ngọc Giao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 294/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 294/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger