|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 293/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vương Thị Hồng Thanh
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 302/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: Số 1 đường B, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1960 và bà Hà Thị N, sinh năm 1965; bị cáo có 03 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Cổ phần V, địa chỉ: Số H Quốc lộ A, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Công T – nhân viên công ty. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2023, Công ty Cổ phần V (sau đây viết tắt là công ty V) kiểm tra sổ sách phát hiện trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023 bị thiếu khoảng 1500kg dây đồng nên đã trình báo sự việc cho Công an phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D xác định được Nguyễn Thành Đ là công nhân của Công ty Cổ phần V làm công việc bọc vỏ nhựa dây đồng, trong quá trình làm việc Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt dây đồng. Đ khai nhận trong quá trình làm việc thấy công đoạn làm việc của mình thường phát sinh số lượng dây đồng bị lỗi, không đạt tiêu chuẩn phải loại bỏ, số dây đồng lỗi ở giai đoạn nào thì công nhân ở giai đoạn đó dồn lại để gần nơi làm việc của mình. Đến cuối tuần số dây đồng bị lỗi ở tất cả các công đoạn sản xuất sẽ được dồn vào một kho riêng, thấy không có ai quản lý hay theo dõi số đồng này nên Đ đã nảy sinh ý định trộm dây đồng trơn (bán thành phẩm) và dây đồng bọc đơn (lỗi) của công ty mang đi bán phế liệu lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do Đ làm việc lâu năm tại công ty nên biết được sơ đồ, hệ thống camera, vị trí, thói quen, giờ giấc làm việc, giờ nghỉ giải lao của mọi người, lợi dụng lúc mọi người nghỉ giải lao Đ thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt dây đồng với thủ đoạn như sau:
- Đối với dây đồng trơn (bán thành phẩm): trong quá trình vận hành máy bọc đơn, Đ để ý khi khối lượng dây đồng trơn trong bin còn khoảng dưới 20kg thì sẽ bấm công tắc dừng máy, dùng búa và 01 mảnh thép được mài sắc 01 đầu để cắt bin dây đồng trên ra và nối tiếp bin dây đồng tiếp theo vào để tiếp tục sản xuất. Còn đối với các bin dây đồng đã được cắt ra thì Đ lợi dụng thời điểm các công nhân nghỉ giải lao, vắng người để di chuyển đến khu vực tủ điện (gần máy bọc đơn) và mở cửa tủ ra làm vật che chắn rồi sử dụng búa và mảnh kim loại (được mài sắc 01 đầu) có sẵn trong công ty để đục lấy dây đồng ra khỏi bin và bỏ vào túi hạt nhựa giấu tạm thời ở vị trí trên. Đ lấy giẻ lau có sẵn trong xưởng trùm lên mắt camera hướng về phía tủ điện gần với hàng rào công ty và mang dây đồng lấy được vứt ra bên ngoài phía tường rào. Khu vực bên ngoài tường rào là cuối hẻm nhà Đ nên sau khi đi làm về Đ điều khiển chiếc xe mô tô hiệu HONDA, số loại VARIO 150, biển số 61D2-10282 đến lấy số dây đồng trên.
- Đối với dây đồng bọc đơn bị lỗi: Đông sẽ cắt đoạn dây đồng bọc đơn lỗi ra, cuộn vào bin để tại nơi làm việc hoặc vo tròn lại để ở ngăn tủ dụng cụ. Sau đó, Đ di chuyển bin dây bọc đồng đơn lỗi đến vị trí tủ điện (gần với máy bọc đơn) rồi mở cửa tủ ra che chắn. Đ sử dụng búa và mảnh kim loại được mài sắc 01 đầu có sẵn trong công ty để đục lấy dây đồng bọc đơn lỗi ra khỏi bin rồi bỏ vào túi hạt nhựa đã sử dụng và giấu tạm thời ở vị trí trên. Khi tan làm, Đ mang túi hạt nhựa có chứa dây đồng bọc đơn lỗi bên trong đến khu vực cửa phụ để tránh camera ghi hình và bỏ vào cốp xe, sử dụng vải phủ lên trên để tránh bị bảo vệ phát hiện. Còn đối với dây đồng bọc đơn lỗi Đ đã vo gọn trước đó thì Đ bỏ vào túi chéo cá nhân rồi điều khiển xe mô tô biển số 61D2-102.82 đưa ra khỏi công ty. Do thực hiện hành vi lấy trộm dây đồng trong khoảng thời gian dài nên Đ không nhớ rõ số lần và số lượng dây đồng mình đã lấy.
Sau khi lấy trộm được dây đồng, Đ mang về giấu tại phòng riêng của mình tại số 1 đường B, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, đến khi đủ 30kg thì mang đi bán phế liệu tại 03 vựa phế liệu cụ thể là: 01 vựa ở đường B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do bà Đỗ Thị L làm chủ; 01 vựa ở đường M, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông Thiều Văn T1 làm chủ; 01 vựa ở số F, Quốc lộ A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Hoàng Ngọc T2 làm chủ. Đ đã bán số dây đồng trộm được với mức giá là 160.000 đồng/kg đối với dây đồng trơn và 100.000 đồng/kg đối với dây đồng bọc đơn, tổng số lần bán là 27 lần, mỗi lần bán khoảng 30kg, riêng lần thứ 27 chỉ bán được 20kg do lúc này công ty đã phát hiện thất thoát tài sản nên Đ không dám thực hiện hành vi của mình nữa. Tổng khối lượng dây đồng mà Đ lấy trộm được từ công ty là 850kg, trong đó 800kg là dây đồng trơn, 50kg là dây đồng bọc đơn bị lỗi. Tổng số tiền Đ thu được từ việc bán dây đồng là 133.000.000 đồng, đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Theo kết luận định giá tài sản số 06/KLĐG-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 và kết luận định giá số 152/KLĐG- HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận 01kg dây đồng trơn nguyên chất có giá 170.000 đồng và 01kg dây đồng bọc đơn, đường kính 0.57mm có giá 132.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thành Đ chiếm đoạt được của Công ty Cổ phần V là 142.600.000 đồng tương ứng với 850kg dây đồng các loại.
Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO 150, biển số 61D2-10282, màu sơn xanh đen, dung tích 149 cm³, số máy KF41E1877505, số khung MH1KF4114KK875024;
- 01 túi đeo chéo màu đen.
Đối với Đỗ Thị L chủ vựa phế liệu ở đường B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do trong quá trình kinh doanh có nhiều khách vãng lai nên bà L không nhớ rõ có từng nhận mua dây đồng của Đ hay không; đối với ông Thiều Văn T1 chủ vựa phế liệu ở đường M - T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì ông cho biết chưa từng nhận mua phế liệu từ Đông; đối với ông Hoàng Ngọc T2 chủ vựa phế liệu ở 623, Quốc lộ A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì vựa của ông tạm ngưng hoạt động trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023, cũng không nhận thu mua dây đồng. Do đó, không có căn cứ xử lý về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong quá trình điều tra, Công ty Cổ phần V trình báo bị thất thoát 1.505kg dây đồng trơn nguyên chất. Tuy nhiên chỉ xác định được Nguyễn Thành Đ chiếm đoạt 800kg dây đồng trơn và 50kg dây đồng bọc đơn lỗi. Còn lượng dây đồng 655kg bị thất thoát còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh bình Dương sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 304/CT-VKS-DA ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 ; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO 150, biển số 61D2-10282, màu sơn xanh đen, dung tích 149 cm³, số máy KF41E1877505, số khung MH1KF4114KK875024 thuộc sở hữu của Nguyễn Thành Đ được sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; 01 túi đeo chéo màu đen Đ sử dụng cất giấu dây đồng cần tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, đại diện bị hại Công ty Cổ phần V yêu cầu bị cáo Nguyễn Thành Đ bồi thường số tiền là 142.600.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023 tại Công ty Cổ phần V nơi bị cáo Nguyễn Thành Đ làm việc, lợi dụng thời điểm công nhân nghỉ giải lao Nguyễn Thành Đ đã có hành vi chiếm đoạt 800kg dây đồng trơn và 50kg dây đồng bọc đơn lỗi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 142.600.000₫ (một trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
Hành vi lén lút lấy 850kg dây đồng các loại tại công ty V của bị cáo Nguyễn Thành Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Nguyễn Thành Đ thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và thời gian kéo dài. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xác định được chính xác số lượng mỗi lần chiếm đoạt, nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Trách nhiệm dân sự: Tổng số dây đồng bị cáo chiếm đoạt của công ty V là 800kg dây đồng trơn và 50 kg dây đồng bọc đơn lỗi. Số dây đồng này bị cáo đã bán không thu hồi được. Theo kết luận định giá, đơn giá của dây đồng trơn là 170.000đ/kg, đơn giá dây đồng bọc đơn đường kính 0,57mm là 132.000đ/kg. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của công ty là 142.600.000 đồng, công ty cũng yêu cầu bị cáo phải bồi thường và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho công ty số tiền trên.
[7] Về xử lý vật chứng:
- [7.1] 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO 150, biển số 61D2-10282, màu sơn xanh đen, dung tích 149 cm³, số máy KF41E1877505, số khung MH1KF4114KK875024 do bị cáo đứng tên sở hữu. Bị cáo sử dụng xe làm phương tiện vận chuyển tài sản trộm cắp của công ty nên cần tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
- [7.2] 01 túi đeo chéo màu đen bị cáo sử dụng cất giấu dây đồng lấy từ công ty, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[8] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là quá nhẹ so với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo do giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt lớn, bị cáo thực hiện trong thời gian dài. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt nặng hơn cho phù hợp.
[9] Án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 584, 589 Bộ luật dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/5/2024. - Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải bồi thường cho công ty Cổ phần V giá trị tài sản chiếm đoạt là 142.600.000đ (một trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng). - Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO 150, biển số 61D2-10282, số khung MH1KF4114KK875024, số máy KF41E1877505, màu sơn xanh đen, dung tích xi lanh 149 cm³ (không có 02 gương chiếu hậu, không có bình ắc qui xe).
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi đeo chéo màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/9/2024).
- Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.130.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 293/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 293/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoản 2
