|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 293/2024/HS-ST |
Ngày: 16-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.
Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lý
- Bà Châu Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 333/2024/HSST ngày 27/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 368/2024/QĐXXST-HS ngày 03/12/2024 đối với bị cáo:
Lê Hoàng G; Giới tính: Nam; sinh năm 1991 tại thành phố Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú: Số A đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở hiện tại: Số B Đ, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Quang H (đã chết) và bà Vũ Thị P; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Trương Thị Ngọc N và có 01 người con, sinh năm 2021; Nhân Thân: Tại bản án số 31/HSST ngày 05/4/2016 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải phòng xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 23/05/2024 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Phi H1, sinh năm 1960; Địa chỉ: B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Ông Cao Văn H2, sinh năm 1976; Địa chỉ: 1 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Bà Phan L, sinh năm 1960; Địa chỉ: 1 T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua các mối quan hệ xã hội và các trang mạng xã hội (Facebook, Z...), từ năm 2021 đến nay Lê Hoàng G tìm kiếm những người cần tiền tiêu dùng cá nhân, để cho vay tiền với mức lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính. Trong đó, xác định G cho người khác vay tiền bằng các hình thức vay trả góp và vay tiền đứng như sau:
- Hình thức vay trả góp: G cho người khác vay tiền trả góp với mức lãi suất là 20% đến 25% trên tổng số ngày vay, từ 0.83% đến 1% một ngày, từ 25% đến 30% một tháng, từ 304,167% đến 400% một năm, trả góp trong 24 ngày đến 25 ngày. Ngoài ra, G thu thêm phí dịch vụ từ 5% đến 10% trên tổng số tiền vay. Sau đó, G sẽ cho người vay nợ tiền liên tục đáo hạn khoản vay (vay khoản vay mới để lấy tiền trả cho khoản vay cũ).
- Hình thức vay tiền đứng: G cho người khác vay tiền với hình thức người vay giữ tiền gốc, 10 ngày trả tiền lãi 10% trên tổng số tiền vay, tương đương 30%/tháng và 360%/năm, đến khi nào người vay nợ, tất toán tiền gốc và trả hết tiền lãi thì kết thúc khoản vay. Sau khi thương lượng với người vay về khoản vay, tiền lãi phải trả, hình thức vay thì G sẽ chuyển khoản cho người vay bằng tài khoản Ngân hàng Q (V) mang tên Lê Hoàng G. Ngoài ra, G còn sử dụng số tài khoản, mở tại Ngân hàng Á và số tài khoản, mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V1) mang tên Nguyễn Quốc T để sử dụng chuyển khoản và nhận tiền.
Quá trình cho vay tiền, Lê Hoàng G cho ông Lê Phi H1, ông Cao Văn H2 và bà Phan L vay tiền với mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:
1. Đối với việc cho ông Lê Phi H1 vay tiền: Ông H1 có nhu cầu vay tiền để sử dụng tiêu dùng nên tìm hiểu thì biết Lê Hoàng G sử dụng số điện thoại 0914.025.xxx; 0934.035.271 có cho vay tiền. Ông H1 gọi điện thoại gặp Lê Hoàng G đồng ý cho vay tiền, trả lãi hàng ngày. Ông H1 hẹn gặp G tại nhà, địa chỉ: B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và đưa Căn cước công dân cho G xem, sau khi kiểm tra G thấy nhà và địa chỉ ghi trong Căn cước công dân phù hợp nên G quyết định cho ông H1 vay tiền, mục đích G đến nhà để biết thông tin đòi tiền về sau.
Từ ngày 01/5/2021 đến 09/3/2023, Lê Hoàng G cho ông H1 vay tiền 26 lần, ông H1 đã tất toán tất hết. Ngày 21/5/2024, là thời điểm phát hiện G có hành vi cho vay lãi nặng, 26 lần vay đó, số tiền thu lợi bất chính mỗi lần cho vay của G dưới 30.000.000 đồng nhưng chưa bị xử phạt hành chính và đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Hoàng G về hành vi này. Căn cứ khoản 2, Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao quy định: “Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng mà các lần thu lợi bất chính đều dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.” Do đó, việc G cho ông H1 vay tiền từ ngày 01/5/2021 đến 09/3/2023, với tổng số tiền 520.000.000 đồng, không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Lê Hoàng G.
Từ ngày 08/7/2023 đến nay, G cho ông H1 vay tiền 21 lần, cụ thể như sau:
Lần vay 01: Ngày 08/07/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày tiền góp tương đương 1.000.000 đồng thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 18.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 23/7/2023, được 15 ngày tương đương 15.000.000 đồng, thiếu 9.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 2.500.000 đồng.
Lần vay 02: Ngày 23/07/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày tiền góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 27 (9.000.000 đồng còn thiếu) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 9.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 15/8/2023, đã tất toán khoản vay này (đóng 24 ngày). Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 5.000.000 đồng.
Lần vay 03: Ngày 02/8/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày tiền góp tương đương 1.500.000 đồng, góp 1 ngày lần vay 28 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 26.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 25/8/2023, thì tất toán khoản vay này (đóng 24 ngày). Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 7.500.000 đồng.
Lần vay 04: Ngày 11/9/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng, hình thức vay đứng. G yêu cầu đóng lãi 3.000.000 đồng/10 ngày đến khi thanh toán được tiền gốc thì không đóng lãi nữa. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 10 ngày tiền lãi tương đương 3.000.000 đồng thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 25.500.000 đồng. Sau đó, ông H1 đã đóng lãi 10 lần (mỗi lần 10 ngày lãi) vào ngày 11/9/2023, 21/9/2023, 01/10/2023, 11/10/2023, 21/10/2023, 29/10/2023, 10/11/2023, 20/11/2023, 30/11/2023, 15/12/2023 tương đương 30.000.000 đồng. Đến ngày 20/12/2023, ông H1 trả tiền gốc. Lãi xuất: 30%/tháng tương đương 360%/năm, gấp 18 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 31.500.000 đồng.
Lần vay 05: Ngày 21/9/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày tiền góp tương đương 1.000.000 đồng và lãi lần vay 30 (số tiền 3.000.000 đồng) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 15.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 12/10/2023, được 21 ngày tương đương 21.000.000 đồng, thiếu 3.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 4.500.000 đồng.
Lần vay 06: Ngày 01/10/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi đóng trước 02 ngày tiền góp tương đương 3.000.000 đồng và lãi lần vay 30 (số tiền 3.000.000 đồng) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 24.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 21/10/2023, được 20 ngày tương đương 30.000.000 đồng, thiếu 6.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 5.000.000 đồng.
Lần vay 07: Ngày 12/10/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng, tất toán lần vay 31 (3.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 32 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 13.500.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 29/10/2023, được 17 ngày tương đương 17.000.000 đồng, thiếu 7.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 4.833.000 đồng.
Lần vay 08: Ngày 21/10/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi đóng trước 2 ngày góp tương đương 3.000.000 đồng và tất toán lần vay 32 (6.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 33, và đóng lãi lần vay 30 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 17.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 04/11/2023, được 14 ngày tương đương 21.000.000 đồng, thiếu 15.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 5.000.000 đồng.
Lần vay 09: Ngày 29/10/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 33 (7.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 34 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 9.500.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 14/11/2023, được 16 ngày tương đương 16.000.000 đồng, thiếu 8.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 2.666.000 đồng.
Lần vay 10: Ngày 04/11/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng và tất toán lần vay 34 (15.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 35 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 11.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 20/11/2023, được 16 ngày tương đương 24.000.000 đồng, thiếu 12.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 5.500.000 đồng.
Lần vay 11: Ngày 06/11/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng, góp 01 ngày lần vay 35, góp 01 ngày lần vay 36 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 24.500.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 21/11/2023, được 15 ngày tương đương 22.500.000 đồng, thiếu 13.500.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 5.250.000 đồng.
Lần vay 12: Ngày 14/11/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 35 (8.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 36, góp 01 ngày lần vay 37 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 7.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 27/11/2023, được 13 ngày tương đương 13.000.000 đồng, thiếu 11.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 3.166.000 đồng.
Lần vay 13: Ngày 20/11/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng và tất toán lần vay 36 (12.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 37 (số tiền 3.000.000 đồng), góp 01 ngày lần vay 38 (số tiền 1.000.000 đồng), đóng lãi lần vay 30 (số tiền 1.500.000 đồng) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 9.500.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 03/12/2023, được 13 ngày tương đương 19.500.000 đồng, thiếu 16.500.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 3.250.000 đồng.
Lần vay 14: Ngày 21/11/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng và tất toán lần vay 37 (13.500.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 38 (số tiền 1.000.000 đồng), góp 01 ngày lần vay 39 (số tiền 1.500.000 đồng) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 11.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 15/12/2023 đã tất toán khoản vay này. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 7.500.000 đồng.
Lần vay 15: Ngày 27/11/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 38 (11.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 39, góp 01 ngày lần vay 40 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 4.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 11/12/2023, được 14 ngày tương đương 14.000.000 đồng, thiếu 10.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 3.333.000 đồng
Lần vay 16: Ngày 03/12/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng, tất toán lần vay 39 (16.500.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 40, góp 01 ngày lần vay 41 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 8.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 15/12/2023, được 13 ngày tương đương 19.500.000 đồng, thiếu 16.500.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 4.750.000 đồng
Lần vay 17: Ngày 11/12/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 41 (10.000.000 đồng còn thiếu) và góp 01 ngày lần vay 40, góp 01 ngày lần vay 42 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 5.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 31/12/2023, được 20 ngày tương đương 20.000.000 đồng, thiếu 4.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 4.333.000 đồng
Lần vay 18: Ngày 15/12/2023, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng, tất toán lần vay 42 (16.500.000 đồng còn thiếu), góp 01 ngày lần vay 43 (số tiền 1.000.000 đồng), góp 01 ngày lần vay 40 (số tiền 1.500.000 đồng), đóng lãi lần vay 30 (số tiền 3.000.000 đồng) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 5.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 07/01/2024 đã tất toán khoản vay này. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 7.500.000 đồng.
Lần vay 19: Ngày 31/12/2023, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 43 (4.000.000 đồng còn thiếu) và góp 02 ngày lần vay 44 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 11.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 12/01/2024, được 12 ngày tương đương 12.000.000 đồng, thiếu 12.000.000 đồng. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 3.000.000 đồng.
Lần vay 20: Ngày 07/01/2024, G cho ông H1 vay số tiền 30.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng, tổng tiền phải trả là 36.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.500.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.500.000 đồng và tất toán lần vay 44 (đóng 02 ngày số tiền 3.000.000 đồng) và góp 01 ngày lần vay 45 (số tiền 1.000.000 đồng) thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 23.000.000 đồng. Ông H1 đóng đến ngày 16/01/2024 được 15.000.000 đồng, còn thiếu 21.000.000 đồng thì không có khả năng đóng nữa. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định G thu lợi tổng cộng là 3.500.000 đồng.
Lần vay 21: Ngày 12/01/2024, G cho ông H1 vay số tiền 20.000.000 đồng. G yêu cầu phải trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, tổng tiền phải trả là 24.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, đóng trước 1 ngày góp tương đương 1.000.000 đồng và tất toán lần vay 45 (12.000.000 đồng còn thiếu) và góp 02 ngày lần vay 46 thì G chuyển khoản cho ông H1 số tiền là 3.000.000 đồng. Ông H1 chỉ đóng đến ngày 16/01/2024, được 5.000.000 đồng, còn thiếu 9.000.000 đồng thì không có khả năng đóng nữa. Lãi xuất: 0,83%/ngày tương đương 303%/năm, gấp 15 lần lãi xuất theo quy định. G thu lợi tổng cộng là 1.833.000 đồng.
Từ ngày 08/7/2023 đến nay, Lê Hoàng G cho Lê Phi H1 vay tiền 21 lần, tổng số tiền G cho ông H1 vay là 530.000.000 đồng. G thu lợi bất chính số tiền 121.000.000 đồng với lãi suất 25%/1 tháng (tương đương 300% năm, gấp 15 lần lãi xuất quy định) trừ đi 1.66% theo lãi xuất quy định của pháp luật tương đương số tiền 8.833.000 đồng, số tiền lãi G thu lợi bất chính là: 112.581.000 đồng.
2. Đối với việc cho anh Cao Văn H2 vay tiền: Thông qua trang mạng xã hội Facebook, anh H2 biết Lê Hoàng G cho vay tiền trả góp. Nên ngày 20/3/2024, do cần tiền tiêu dùng cá nhân, anh H2 chủ động nhắn tin cho tài khoản Messenger Facebook của G. Sau đó, G sử dụng số đện thoại 0934035271 gọi điện thoại cho anh H2 có số thuê bao 0918050420, kết bạn qua tài khoản zalo với anh H2 để hỏi thông tin. Sau đó, G đến nhà tại địa chỉ số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để khảo sát nơi ở và thống nhất cho vay tiền như sau:
Lần vay 1: Ngày 20/3/2024, G cho anh H2 vay 20.000.000 đồng, yêu cầu trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 2.000.000 đồng, trừ trước 02 ngày tiền góp là 2.000.000 đồng thì G sử dụng tài khoản ngân hàng V (chủ tài khoản: Lê Hoàng G) chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng V (chủ tài khoản: Cao Văn H2) số tiền 16.000.000 đồng. Từ ngày 21/3/2024 đến ngày 11/4/2024, anh H2 trả cho G được tổng cộng 23 ngày, được 23.000.000 đồng bằng việc sử dụng tài khoản ngân hàng C (chủ tài khoản: Cao Văn H2) chuyển vào tài khoản VIB của G, lúc này anh H2 còn nợ G 02 ngày tiền góp là 2.000.000 đồng. G thu lợi tổng cộng là 6.600.000 đồng.
Lần vay 2: Ngày 11/4/2024, anh H2 vay G 10.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 500.000 đồng, trừ trước 02 ngày tiền trả góp là 1.000.000 đồng, trừ tiền còn thiếu lần vay 1 là 2.000.000 đồng, thì G sử dụng tài khoản ngân hàng V chuyển khoản vào tài khoản Cake by số 0918050420 (chủ tài khoản: Cao Văn H2) số tiền 6.500.000 đồng. Sau đó, anh H2 sử dụng tài khoản VIB số [...] chuyển vào tài khoản VIB số [...] để trả tiền góp cho G hoặc G gặp trực tiếp để thu tiền mặt vào ngày 24/4/2024 với số tiền 2.000.000 đồng. Anh H2 trả được 17 ngày tiền góp (tổng cộng trả được 19 ngày). G thu lợi tổng cộng là 2.400.000 đồng.
Lần vay 3: Ngày 30/4/2024, anh H2 đáo hạn khoản vay, nghĩa là vay 10.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng. Sau khi trừ phí 500.000 đồng, trừ trước 02 ngày tiền trả góp là 1.000.000 đồng, trừ tiền còn thiếu lần vay 2 là 3.000.000 đồng, thì G sử dụng tài khoản ngân hàng V chuyển khoản vào tài khoản VIB số [...] của anh H2 số tiền 5.500.000 đồng. Anh Hoàng đóng 22 ngày, được 11.000.000 đồng. G thu lợi tổng cộng là 2.700.000 đồng.
Lần vay 4: Ngày 11/5/2024, anh H2 vay thêm 10.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng. Sau khi trừ phí 500.000 đồng, trừ trước 02 ngày tiền trả góp là 1.000.000 đồng, trừ tiền anh H2 chậm đóng 03 ngày lần vay 3 là 1.500.000 đồng, thì G sử dụng tài khoản ngân hàng V chuyển khoản vào tài khoản VIB số [...] của anh H2 số tiền 7.000.000 đồng. Anh Hoàng đóng 18 ngày, được 9.000.000 đồng. G thu lợi tổng cộng là 2.300.000 đồng.
Lần vay 5: Ngày 17/5/2024, anh H2 đáo hạn lần vay, nghĩa là vay 10.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng. Sau khi trừ phí 500.000 đồng, trừ trước 02 ngày tiền trả góp là 1.000.000 đồng, trừ tiền anh H2 nợ lần vay 4 là 3.500.000 đồng (7 ngày tiền góp), trừ tiền góp 01 ngày lần vay 5 là 500.000 đồng, thì G sử dụng tài khoản ngân hàng V chuyển khoản vào tài khoản VIB số [...] của anh H2 số tiền 4.500.000 đồng. G thu lợi tổng cộng là 800.000 đồng.
Đến nay, anh H2 chuyển khoản trả góp cho G được 18 ngày của lần vay 4 (đóng 16 ngày và 02 ngày thu tiền trước). Trả 3 ngày đối với lần vay 5 (bao gồm 02 ngày thu tiền trước và 01 ngày đóng), thì Cơ quan CSĐT phát hiện và mời anh H2 làm việc để cung cấp thông tin liên quan, nên anh H2 không trả góp cho G nữa.
3. Đối với việc cho bà Phan L vay tiền như sau: Thông qua trang mạng xã hội Facebook, bà L biết Lê Hoàng G cho vay tiền trả góp. Nên ngày 09/5/2024, do cần tiền tiêu dùng cá nhân, bà L sử dụng số thuê bao 0707446915 gọi điện thoại cho G qua số thuê bao 0934035271 để vay mượn tiền, cả hai kết bạn qua tài khoản zalo để liên lạc. Sau đó, G đến nhà tại địa chỉ số A T, phường C, quận B, TP. Hồ Chí Minh để khảo sát nơi ở và thống nhất cho vay tiền như sau:
Ngày 09/5/2024, G cho bà L vay 10.000.000 đồng, yêu cầu trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng. Sau khi trừ phí dịch vụ 1.000.000 đồng, trừ trước 02 ngày tiền góp là 1.000.000 đồng thì G sử dụng tài khoản ngân hàng V (chủ tài khoản: Lê Hoàng G) chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng S (chủ tài khoản: Phan L) số tiền 8.000.000 đồng. Từ ngày 09/5/2024 đến ngày 21/5/2024, bà L trả cho G được tổng cộng 13 ngày bằng việc sử dụng tài khoản ngân hàng S (chủ tài khoản: P) chuyển vào tài khoản VIB của G với số tiền 6.500.000 đồng, lúc này bà L còn nợ G 12 ngày tiền góp là 6.000.000 đồng. G thu lợi tổng cộng là 2.300.000 đồng.
Như vậy, Lê Hoàng G, Cho anh Cao Văn H2 vay 5 lần và bà Phan L vay 01 lần tổng số tiền là 70.000.000 đồng, thu lợi tổng tiền lãi là 17.100.000 đồng, với lãi suất 30%/1 tháng, trừ đi 1.66% theo quy định của pháp luật tương đương số tiền 1.166.000 đồng theo quy định lãi suất cao nhất trong bộ luật dân sự thì số tiền lãi G thu lợi bất chính là: 15.934.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax của Lê Hoàng G.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Về bồi thường trách nhiệm dân sự: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Phi H1 yêu cầu bị can Lê Hoàng G trả lại số tiền lãi suất vượt quá so với quy định nhà nước; ông Cao Văn H2 và bà Phan L không yêu cầu nhận lại tiền lãi xuất vượt quá quy định và không yêu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 422/CTr-VKS ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Lê Hoàng G về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử, Áp dụng khoản 2 điều 201; điểm s, khoản 1 khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- - Xử phạt bị cáo Lê Hoàng G từ 09 đến 12 tháng tù.
- - Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS đề nghị xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của Lê Hoàng G.
Áp dụng Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để xử lý vật, tiến liên quan trực tiếp đến tội phạm, cụ thể như sau:
- - Buộc bị cáo Lê Hoàng G nộp lại số tiền gốc 455.000.000 đồng cho anh H1 vay; Số tiền gốc 47.900.000 đồng cho anh H2 vay; Số tiền gốc 6.500.000 đồng cho chị L vay. Đây là tổng số tiền mà bị cáo dùng cho vay là phương tiện phạm tội nên buộc nộp lại để sung quỹ Nhà nước;
- - Buộc bị cáo G trả lại số tiền 112.581.000 đồng là tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu từ anh Lê Phi H1.
- - Buộc bị cáo G nộp lại số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà G đã thu của những người vay và các khoản phí bất hợp pháp từ việc cho vay để sung quỹ Nhà nước, lãi theo quy định 9.999.000 đồng.
- - Anh Lê Phi H1 chưa trả cho bị cáo G số tiền gốc 75.000.000 đồng, nên buộc anh H1 phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước;
- - Anh Cao Văn H2 chưa trả cho bị cáo G số tiền gốc 12.100.000 đồng, nên buộc anh H2 phải nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước;
- - Chị Phan L chưa trả cho bị cáo G số tiền gốc 3.500.000 đồng, nên buộc chị L phải nộp lại để nộp nhân sách Nhà nước;
- - Đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo G từ bà Phan L và ông Cao Văn H2 là 15.934.000 đồng, bà L, ông H2 không yêu cầu bị cáo G trả lại nên không xem xét.
- - Phạt bổ sung bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Lê Hoàng G đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng, bị cáo Lê Hoàng G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 201 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước mà cụ thể ở đây là xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tín dụng và trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Mặt khác, hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến lợi ích của công dân, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, nợ nần chồng chất, không có khả năng trả nợ, ảnh hưởng đến đời sống gia đình, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Đồng thời còn gây nên những hậu quả vật chất và phi vật chất cho xã hội và những thiệt hại về kinh tế, chính trị xã hội, Bị cáo đã ngang nhiên thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật, nên việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết. Do bị cáo cho vay với mức lãi suất từ 300% một năm cao gấp nhiều lần so với lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, bị cáo G thu lợi bất chính số tiền 128.515.000 đồng (tổng cộng số tiền thu lợi từ người đi vay) nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo khoản 2 điều 201 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Mặt khác bị cáo có nhân thân xấu. Do đó cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền sự, phạm tội phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong thời gian tạm giam từ ngày 23/05/2024 tới nay cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo G ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng mức án bằng với thời gian tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và qua đó thể hiện sự nhân đạo của P1 đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.
Bị cáo G cho anh H1 vay 21 lần, anh H2 vay 5 lần, nhưng trong đó không có lần nào thu lợi bất chính của mỗi lần cho vay trên 30.000.000 đồng, theo qui định của pháp luật thì không thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo G là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 3 điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.
[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước
- - Đối với số tiền 455.000.000 đồng cho anh H1 vay; Số tiền 47.900.000 đồng cho anh H2 vay; Số tiền 6.500.000 đồng cho chị L vay. Đây là tổng số tiền mà bị cáo dùng cho vay là phương tiện phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước;
- - Đối với số tiền 112.581.000 đồng mà bị cáo G đã thu từ anh H1 vượt quá lãi suất do ngân hàng N3 qui định, nên phải trả lại cho người vay là anh Lê Phi H1.
- - Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo G đã thu của những người vay theo lãi theo quy định của ngân hàng N3 là 9.999.000 đồng, nhưng xét đây là số tiền cho vay phát sinh từ nguồn gốc tội phạm nên buộc bị cáo nộp lại để nộp ngân sách nhà nước.
- - Anh Lê Phi H1 chưa trả cho bị cáo G số tiền gốc 75.000.000 đồng, nên buộc anh H1 phải nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước;
- - Anh Cao Văn H2 chưa trả cho bị cáo G số tiền gốc 12.100.000 đồng, nên buộc anh H2 phải nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước;
- - Chị Phan L chưa trả cho bị cáo G số tiền gốc 3.500.000 đồng, nên buộc chị L phải nộp lại để nộp nhân sách Nhà nước;
- - Đối với số tiền thu lợi bất chính từ chị Phan L và anh Cao Văn H2 của bị cáo Lê Hoàng G là 15.934.000 đồng, chị L, anh H2 không yêu cầu bị cáo G trả lại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng G 06(sáu) tháng 23(hai mươi ba ngày) tù.
Thời hạn tù tính kể từ ngày 23/05/2024.
Áp dụng khoản 5 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo Lê Hoàng G, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 263/PNK ngày 15/10/2024 của Công an quận G).
- - Áp dụng Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để xử lý vật, tiến liên quan trực tiếp đến tội phạm, cụ thể như sau:
- - Buộc bị cáo Lê Hoàng G nộp lại số tiền gốc 455.000.000 đồng cho anh H1 vay; Số tiền gốc 47.900.000 đồng cho anh H2 vay; Số tiền gốc 6.500.000 đồng cho chị L vay, để sung quỹ Nhà nước;
- - Buộc bị cáo G trả lại số tiền 112.581.000 đồng cho anh Lê Phi H1.
- - Buộc bị cáo G nộp lại số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà G đã thu của những người vay và các khoản phí bất hợp pháp từ việc cho vay để sung quỹ Nhà nước, lãi theo quy định là 9.999.000 đồng.
- - Buộc anh Lê Phi H1 nộp lại số tiền gốc 75.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- - Buộc anh Cao Văn H2 nộp lại số tiền gốc 12.100.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- - Chị Phan Lang N1 lại số tiền gốc 3.500.000 đồng, để nộp ngân sách nhà nước.
Áp dụng điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo G không nộp lại số tiền thu lợi bất chính và không trả lại số tiền lãi và tiền dịch vụ cho vay trái pháp luật cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 293/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 293/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
