|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 293/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bé. Nghề nghiệp: Giáo viên.
2. Ông Thái Văn Sơn. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam-Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 265/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lê Thiện T, sinh ngày 29/7/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số A đường số F, tổ H, ấp X, xã T huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số G Tỉnh lộ 15, ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn T1, sinh năm: 1965 và bà Lê Thị Quí N, sinh năm: 1990; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Dương Đình P, sinh ngày 03/9/2007 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn C, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Dương Đình S, sinh năm: 1983 và bà Bùi Thị C, sinh năm: 1986; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Đinh Văn N1, sinh ngày 01/3/2007 tại Thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Thôn C, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở hiện nay: Số B, đường số G, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Đinh Văn L, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trương Nguyễn Thành D, sinh ngày 18/7/2007 tại tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở hiện nay: Số D, đường số I, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Không rõ và bà Trương Thị Ngọc H1, sinh năm: 1983; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Cháu Nguyễn Ngọc Đăng K, sinh ngày 18/12/2008. Địa chỉ: Số D B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cháu Bùi Ngô Hoàng B, sinh ngày 29/8/2009. Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người giám hộ:
- Người giám hộ cho bị cáo Lê Thiện T: Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1965 (Vắng mặt), địa chỉ: Xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Lê Thị Quí N, sinh năm: 1990 (Có mặt), địa chỉ: Số G Tỉnh lộ 15, ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người giám hộ cho bị cáo Dương Đình P: Ông Dương Đình S, sinh năm: 1983 (Có mặt), địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và bà Bùi Thị C, sinh năm: 1986 (Có mặt), địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người giám hộ cho bị cáo Đinh Văn N1: Ông Đinh Văn L, sinh năm: 1968 (Có mặt) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975 (Có mặt). Địa chỉ: Số B, đường số G, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người giám hộ cho bị cáo Trương Nguyễn Thành D: Bà Trương Thị Ngọc H1, sinh năm: 1983 (Có mặt). Địa chỉ: Số D đường số I, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người giám hộ cho bị hại Nguyễn Ngọc Đăng K: Ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm: 1981 (Xin vắng mặt) và bà Huỳnh Thị M (Xin vắng mặt). Địa chỉ: Số D B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người giám hộ cho bị hại Bùi Ngô Hoàng B: Ông Bùi Trung H3, sinh năm: 1989 (Xin vắng mặt) và bà Ngô Lệ Trâm A, sinh năm: 1990 (Xin vắng mặt). Địa chỉ: Đường số G, tổ G, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người bào chữa:
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thiện T: Luật sư Đặng Văn Y, sinh năm: 1950-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H (Có mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Đình P: Luật sư Trần Thị H4, sinh năm: 1983-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn N1: Luật sư Hoàng Văn Q, sinh năm: 1983-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Nguyễn Thành D: Luật sư Huỳnh Khắc T2, sinh năm: 1976-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Văn H5, sinh năm: 1975 (Có mặt). Địa chỉ: Số D đường số I, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/04/2024, Lê Thiện T, sinh ngày 29/7/2007 bàn bạc cùng đồng phạm gồm Dương Đình P, sinh ngày 03/9/2007, Đinh Văn N1, sinh ngày 01/3/2007 và Trương Nguyễn Thành D, sinh ngày 18/7/2007 đi từ xã T, huyện C đến tỉnh Tây Ninh để tìm bắt trộm gà của người dân ven đường bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Đến khoảng hơn 23 giờ00 phút cùng ngày, T cùng N1, P và D hẹn gặp nhau tại đường hẻm gần nhà của D thuộc ấp B, xã T, huyện C. T đem theo 01 cuộn băng keo sử dụng vào việc bắt trộm gà, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 52M6-9916 chở N1, Tín điều khiển xe mô tô hiệu Honda Cup biển số 84AA-017.07 chở D đi từ xã T đến xã P thì T đổi cho D điều khiển xe gắn máy biển số 84AA-017.07 chở T. Nhóm của T tiếp tục đi theo đường Tỉnh lộ 15 hướng về xã A. Khi đến gần cầu T, thuộc ấp X, xã A, huyện C, T nhìn thấy Nguyễn Ngọc Đăng K, sinh ngày 18/12/2008 và Bùi Ngô Hoàng B, sinh ngày 29/8/2009 đi trên 02 chiếc xe đạp. Lúc này T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của K và B nên T nói với P, N1, D “Có hai thằng con nít kìa bây” thì P mới hỏi “Có điện thoại không?”, T mới trả lời “Có”. Sau đó nhóm của T quay đầu xe lại đến trước số nhà A, đường T, ấp X, xã A, huyện C, P chở N1 chặn trước đầu xe đạp, D chở T chặn ở phía sau xe đạp của B, K. Sau khi chặn xe, P nói “Tụi bây đưa điện thoại cho tao” thì B và K không chịu đưa. Lúc này N1 dùng lời nói đe dọa B, K: “Tao có dao, mày không đưa tao đâm mày”, đồng thời N1 đưa tay phải vào bên trong túi áo khoác bên phải để K, B nghĩ rằng N1 có dao trong người. Lúc này K, B hoảng sợ, sợ bị đâm nên đứng im không dám phản kháng hay tri hô nên lấy điện thoại trong túi quần ra đưa cho nhóm của T; K đưa cho T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen dung lượng 128GB và B đưa cho P 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh dung lượng 64GB. Sau đó T hỏi mật khẩu điện thoại Iphone 7, P hỏi mật khẩu điện thoại Vivo thì B không nói nên P có dùng tay trái đánh 01 cái trúng vùng mặt bên phải của B, B sợ nên đọc mật khẩu điện thoại. Sau đó, T trả lại điện thoại Iphone 7 cho K, còn P chiếm đoạt điện thoại Vivo rồi nhóm của T lên xe bỏ đi, D chở T chạy trước, P chở N1 chạy sau. Đi được khoảng 100m, P điều khiển xe mô tô biển số 52M6-9916 chở N1 quay lại chỗ K, P nói “Nhìn mặt mày thấy ghét nên tao lấy luôn”, do K vẫn còn sợ do nhóm P đe dọa lúc nãy nên K không dám kháng cự để cho P chiếm đoạt điện thoại Iphone 7 nêu trên của K, việc này P và N1 không thông báo, bàn bạc cho D và T biết. P, N1, T, D tiếp tục đi theo Tỉnh lộ 15 hướng về tỉnh Tây Ninh để tiếp tục trộm cắp gà. Trên đường đi P đưa cho T cất giữ điện thoại Vivo, P cất giữ điện thoại Iphone 7. B và K đến Công an xã A tố giác tội phạm.
Quá trình điều tra, Đinh Văn N1, Trương Nguyễn Thành D, Dương Đình P, Lê Thiện T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị can tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại có đơn bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự. Đinh Văn N1, Dương Đình P phạm tội 02 lần trở lên; Lê Thiện T xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 47/ KL-HĐĐGTS ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C, tổng trị giá 02 chiếc điện thoại 5.000.000đ, gồm: Điện thoại di động Iphone 7 dung lượng 128GB giá trị: 2.000.000đ và điện thoại di động Vivo Y21 dung lượng 64GB giá trị: 3.000.000đ.
Vật chứng thu giữ::
- Điện thoại di động hiệu Iphone 6s, Model A1687 FCC ID BCG-E2944A, là tài sản của bị can Lê Thiện T không sử dụng vào việc phạm tội;
- Điện thoại di động hiệu Iphone 6s, số Imei: 353301071560192 là tài sản của bị can Dương Đình P không sử dụng vào việc phạm tội;
- Điện thoại di động hiệu Realme, số Imei 1: 860666054515595, số Imei 2: 860666054515587 là tài sản của bị can Trương Nguyễn Thành D không sử dụng vào việc phạm tội;
- Xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 52M6-9916, số khung: Không có, số máy: Không có. Kết quả xác minh là tài sản của Lê Thiện T, T sử dụng làm phương tiện phạm tội;
- Xe mô tô hiệu Honda Cup biển số 84AA-017.07, số khung RL8DCB6UME1013888, số máy RL8139FMBL1SE0013888. Kết quả xác minh là tài sản của ông Trương Văn H5 là cậu ruột của bị can Trương Nguyễn Thành D. Ngày 02/04/2024, ông H5 cho D mượn chiếc xe nêu trên để đi làm thuê tại chợ V1, xã T, huyện C. Sau đó D tự ý sử dụng xe làm phương tiện gây án, ông H5 hoàn toàn không biết.
- Điện thoại di động hiệu Iphone 7 dung lượng 128GB, số I: 353814089752437, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc Đăng K;
- Điện thoại di động hiệu Vivo Y21 dung lượng 64GB, số Imei 1: 861428055970215, số Imei 2: 861428055970207, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sơ hữu là ông Bùi Ngô Hoàng B.
Tại Cáo trạng số 251/CT-VKS.CC ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị can Lê Thiện T, Dương Đình P, Đinh Văn N1 và Trương Nguyễn Thành D về tội “Cướp tài sản” theo Điểm e Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thiện T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 03/4/2024, bị cáo cùng với bị cáo P, D uống nước tại quán vỉa hè thuộc ấp C, xã T, huyện C thì bị cáo rủ P và D đi tỉnh Tây Ninh đi chơi, đi chơi nghĩa là đi trộm gà thì P và D. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 03/4/2024, bị cáo cùng với bị cáo N1 ngồi uống nước ở vỉa hè thuộc ấp C, xã T, huyện C, bị cáo rủ N1 đi ăn trộm gà thì N1 đồng ý. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo chạy xe máy biển số 52M6-9916 chở N1 đến hẻm gần nhà D tại ấp B, xã T, huyện C, bị cáo nói với N1 là có rủ P và D đi cùng. Sau khi gặp P và D thì D điều khiển xe máy biển số 84AA-017.07 chở bị cáo, P điều khiển xe máy của bị cáo biển số 52M6-9916 chở N1. Cả nhóm đi từ xã T đến xã P, huyện C, khi đang lưu thông trên đường T thuộc ấp X, xã A thì bị cáo thấy có 02 thanh niên điều khiển 02 xe đạp nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, bị cáo liền nói với cả nhóm nghe “Có hai thằng con nít kìa bây” thì bị cáo P1 nói “Có điện thoại không”, bị cáo trả lời “Có”. Cả nhóm quay lại, P điều khiển xe máy biển số 52M6-9916 chở N1 chạy lên phía trước chặn đầu xe đạp của hai thanh niên, D điều khiển xe máy biển số 84AA-017.07 chở bị cáo chặn phía sau xe đạp của hai thanh niên, P nói “Tụi bây đưa điện thoại cho tao” thì hai thanh niên không chịu đưa, N1 để tay vào túi áo khoác và nói “Tao có dao, mày không đưa tao đâm mày”, hai thanh niên sợ nên lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 đưa cho bị cáo và lấy 01 điện thoại di động hiệu Vivo đưa cho P, bị cáo mở điện thoại thì thấy bị khóa mật khẩu, bị cáo hỏi mật khẩu nhưng người thanh niên không cho, P dùng tay tát vào mặt người thanh niên một cái thì người thanh niên mới đọc mậu khẩu là 181228, bị cáo nhập mật khẩu để mở màn hình, sau đó bị cáo thấy sợ nên trả lại cho người thanh niên rồi cả nhóm bỏ đi. Chạy được một đoạn khoảng 100m thì P chạy lên hỏi có nhớ mật khẩu cái Iphone này không, bị cáo thấy N1 cầm điện thoại Iphone 7, bị cáo đọc mật khẩu cho P và N1 nghe. Lúc này P đưa điện thoại di động hiệu Vivo cho bị cáo cất giữ, N1 đưa điện thoại di động hiệu Iphone 7 cho P cất giữ. Cả nhóm tiếp tục di chuyển về hướng tỉnh Tây Ninh để trộm gà nhưng không trộm được, khi cả nhóm đến phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì thấy có Công an đang truy tìm nên cả nhóm bỏ chạy đến địa phận xã P, huyện C thì bị bắt. Công an thu giữ của bị cáo 01 xe máy biển số 52M6-9916, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, 01 điện thoại di động hiệu Vivo vừa cướp được. Chiếc xe máy biển số 52M6-9916 là tài sản của bị cáo mua lại của người bạn ngoài xã hội, xe không có giấy tờ, còn chiếc điện thoại di động Iphone 6 của bị cáo dùng để liên lạc với gia đình, bị cáo xin được nhận lại chiếc điện thoại này. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai nên đã nhờ mẹ đến nhà bị hại xin lỗi và bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Đình P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 03/4/2024, bị cáo cùng với bị cáo T, D uống nước tại quán vỉa hè thuộc ấp C, xã T, huyện C thì bị cáo T rủ bị cáo và D khuya đi tỉnh Tây Ninh chơi thì P và D đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo cùng D ở nhà người bạn tên V chơi, bị cáo nói với D là T rủ đi Tây Ninh chơi có nghĩa là đi ăn trộm gà thì D đồng ý. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo cùng với D đứng chờ trước hẻm nhà D thì thấy Tín điều khiển xe máy biển số 52M6-9916 chở N1 đến. Sau khi gặp, D chạy xe máy biển số 84AA-017.07 chở T, bị cáo điều khiển xe máy của T biển số 52M6-9916 chở N1. Cả nhóm đi từ xã T đến xã P, huyện C, khi đang lưu thông trên đường T thuộc ấp X, xã A thì T nói với cả nhóm nghe “Có hai thằng con nít kìa bây” thì bị cáo nói “Có điện thoại không”, T trả lời “Có”. Cả nhóm quay lại, bị cáo điều khiển xe máy biển số 52M6-9916 chở N1 chạy lên phía trược chặn đầu xe đạp của hai thanh niên, D điều khiển xe máy biển số 84AA-017.07 chở T chặn phía sau xe đạp của hai thanh niên, bị cáo nói “Tụi bây đưa điện thoại cho tao” thì hai thanh niên không chịu đưa, N1 để tay vào túi áo khoát và nói “Tao có dao, mày không đưa tao đâm mày”, hai than niên sợ nên lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 đưa cho T và đưa 01 điện thoại di động hiệu Vivo cho bị cáo, T hỏi mật khẩu nhưng người thanh niên không cho, bị cáo dùng tay tát vào mặt người thanh niên một cái thì người thanh niên mới đọc mật khẩu cho T nhập khoảng 02 phút thì T trả lại cho người thanh niên rồi cả nhóm bỏ đi. Chạy được một đoạn khoảng 100m thì bị cáo quay đầu xe lại chỗ hai thanh niên còn đứng, bị cáo nói “Nhìn mặt mày thấy ghét tao lấy luôn”, bị cáo dùng tay lấy điện thoại di động Iphone 7 của người thanh niên đang cầm trên tay đưa cho N1 rồi điều khiển xe chạy theo D và T hỏi có nhớ mật khẩu cái Iphone này không, T đọc mật khẩu. P đưa điện thoại di động hiệu Vivo cho T cất giữ, Nam đưa điện thoại di động hiệu Iphone 7 cho bị cáo cất giữ. Cả nhóm tiếp tục di chuyển về hướng tỉnh Tây Ninh để trộm gà nhưng chưa trộm được. Khi cả nhóm đến phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì thấy có Công an đang truy tìm nên cả nhóm bỏ chạy đến địa phận xã P, huyện C thì bị bắt. Công an thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 vừa cướp được. Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S là của bị cáo dùng để liên lạc với gia đình, bị cáo xin được nhận lại. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai nên đã nhờ cha mẹ đến nhà bị hại xin lỗi và bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như lời khai của bị cáo T, bị cáo P và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, khi bắt giữ, Công an không thu giữ gì của bị cáo. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai nên đã nhờ cha mẹ đến nhà bị hại xin lỗi và bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Nguyễn Thành D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như lời khai của bị cáo T, bị cáo P và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Khi bắt giữ, Công an thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Realme và 01 xe máy biển số 84AA-017.17. Xe máy là của cậu bị cáo tên Trương Văn H5, cậu bị cáo cho bị cáo mượn để đi phụ bán trà sữa, còn chiếc điện thoại di động bị cáo dùng để liên lạc với gia đình, bị cáo xin được nhận lại chiếc điện thoại di động để sử dụng. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai nên đã nhờ mẹ đến nhà bị hại xin lỗi và bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị Quí N là người giám hộ cho bị cáo Lê Thiện T trình bày: Bà là mẹ của bị cáo T, việc T cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi cướp tài sản của cháu K, cháu B là sai trái. Do chồng bị bệnh, bà phải đi làm thợ hàn cửa sắt để lo kinh tế, thiếu quan tâm đến con dẫn đến việc con phạm tội. Bà đã cùng với gia đình các bị cáo khác đứng ra bồi thường và xin lỗi gia đình của cháu K, cháu B và được cháu K và cháu B làm đơn bãi nại, bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho con bà.
Tại phiên tòa, ông Dương Đình S và bà Bùi Thị C là người giám hộ cho bị cáo Dương Đình P trình bày: Ông bà là cha mẹ của bị cáo P, việc P cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi cướp tài sản của cháu K, cháu B là sai trái. Vợ chồng bà đã cùng với gia đình các bị cáo khác đứng ra bồi thường và xin lỗi gia đình của cháu K, cháu B và được cháu K và cháu B làm đơn bãi nại, ông bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho con ông bà.
Tại phiên tòa, ông Đinh Văn L và bà Nguyễn Thị H là người giám hộ cho bị cáo N1 trình bày: Ông bà là cha mẹ của bị cáo N1, do bận việc buôn bán nên thiếu quan tâm đến con dẫn đến N1 bị bạn bè rủ rê phạm tội. Vợ chồng ông bà đã cùng với gia đình các bị cáo khác đứng ra bồi thường và xin lỗi gia đình của cháu K, cháu B và được cháu K và cháu B làm đơn bãi nại, ông bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho con ông bà.
Tại phiên tòa, bà Trương Thị Ngọc H1 là người giám hộ cho bị cáo D trình bày: Bà là mẹ của bị cáo D, do bà phải đi làm ở xa con, chưa quan tâm sâu sát đến con dẫn đến D bị bạn bè rủ rê phạm tội. Bà đã cùng với gia đình các bị cáo khác đứng ra bồi thường và xin lỗi gia đình của cháu K, cháu B và được cháu K và cháu B làm đơn bãi nại, bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho con bà.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trương Văn H5 trình bày: Ông là cậu ruột của bị cáo D, ông có cho bị cáo D mượn xe máy biển số 84AA-017.07 để làm phương tiện đi phụ bán trà sữa, bị cáo D sử dụng xe máy nói trên phạm tội ông hoàn toàn không biết, ông xin được nhận lại xe máy để sử dụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt chính:
- Áp dụng Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Thiện T mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 04 (B1) năm tù;
- Áp dụng Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Đình P mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 04 (B1) năm tù;
- Áp dụng Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đinh Văn N1 mức án từ 03 (Ba) năm tù đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù;
- Áp dụng Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Nguyễn Thành D mức án từ 03 (Ba) năm tù đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
* Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều dưới 18 tuổi, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng Khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt bổ sung các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử lý như sau:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Model A1687 FCCID BCG-F2944A là tài sản chủa bị cáo T, không dùng vào việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xét trả lại cho bị cáo T;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S số Imei: 3533010071560192 là tài sản của bị cáo P, không dùng vào việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xét trả lại cho bị cáo P;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei 1: 860666054515595, số Imei 2: 860666054515587 là tài sản chủa bị cáo N1, không dùng vào việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xét trả lại cho bị cáo N1;
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 52M6-9916, số khung: Không có, số máy: Không có là tài sản của bị cáo T dùng vào việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Cup biển số 84AA-017.07, số khung: RL8DCB6UME1013888, số máy: RL8139FMBL1SE0013888 là tài sản của ông Trương Văn H5, bị cáo D sử dụng vào phương tiện phạm tội ông H5 không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử xét trả lại cho ông H5;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 dung lượng 128GB, số I: 353814089752437, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là cháu Nguyễn Ngọc Đăng K và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21 dung lượng 64GB, số Imei 1: 861428055970215, số Imei 2: 861428055970207, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sơ hữu là cháu Bùi Ngô Hoàng B nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Thiện T là Luật sư Đặng Văn Y trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Lê Thiện T. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết khác như khi bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi 08 tháng nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo có nhân thân tốt, có bà ngoại tên Lương Thị H6 được Nhà nước tặng “Huy chương kháng chiến hạng nhì”, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo khai báo thành khẩn, cùng gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo T một hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, tạo cơ hội cho bị cáo phấn đấu trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
* Người bào chữa cho bị cáo Dương Đình P là Luật sư Trần Thị H4 trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật, các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Dương Đình P. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết khác như khi bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo dưới 18 tuổi, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, gia định bị cáo có truyền thống cách mạng, có ông ngoại tên Bùi Trọng L1 là thương binh 2/4, bà cố ngoại tên Vi Thị C1 được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng”, bị cáo khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 04 (B1) năm tù là quá nặng. Bị cáo P có 02 tình tiết giảm nhẹ đuọc quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội.
* Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn N1 là Luật sư Hoàng Văn Q trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo N1. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết khác như khi bị cáo N1 thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo bị rủ rê, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ mang tính nhất thời, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, gia định bị cáo có truyền thống cách mạng, có ông bà ngoại tên Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Thị T3 được Chính phủ tặng “Bảng vàng danh dự”, “Bảng gia đình vẻ vang”; có ông nội tên Đinh Văn K1 tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được tặng huy, huân chương kháng chiến, bị cáo khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù là quá nặng. Bị cáo N1 có 02 tình tiết giảm nhẹ đuọc quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội.
* Người bào chữa cho bị cáo Trương Nguyễn Thành D là Luật sư Huỳnh Khắc T2 trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo D. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết khác như khi bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo không có cha nên thiếu sự quan tâm chăm sóc từ gia đình, bị cáo bị rủ rê, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ mang tính nhất thời, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù là quá nặng. Bị cáo D có 02 tình tiết giảm nhẹ đuọc quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tranh luận với các Luật sư: Các bị cáo T, P, N1, D phạm tội “Cướp tài sản” theo Điểm e Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2018 với khung hình phạt từ 07 (Bảy) năm đến 15 (Mười lăm) năm tù. Khi đề nghị mức hình phạt cho các bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã có đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2018 để xem xét hạ khung cho các bị cáo, mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp với vai trò, tính chất hành vi phạm tội và độ tuổi của từng bị cáo,.
Các bị cáo Lê Thiện T, Dương Đình P, Đinh Văn N1 và Trương Nguyễn Thành D không tranh luận, không tự bào chữa.
Người giám hộ của các bị cáo Lê Thiện T, Dương Đình P, Đinh Văn N1 và Trương Nguyễn Thành D không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Trong những ngày bị giam giữ, các bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xử nhẹ để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 24 giờ ngày 03/4/2024 tại trước nhà số A Tỉnh lộ 15 ấp X, xã A, huyện C, các bị cáo Lê Thiện T, Dương Đình P, Đinh Văn N1 và Trương Nguyễn Thành D có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc chiếm đoạt tài sản của cháu Bùi Ngô Hoàng B, sinh ngày 29/8/2009 là chiếc điện thoại di động hiệu Vivo. Liền sau đó bị cáo Dương Đình P, Đinh Văn N1 tiếp tục chiếm đoạt tài sản của cháu Nguyễn Ngọc Đăng K, sinh ngày 18/12/2008 là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 thì bị phát hiện. Bằng hành vi nêu trên thì các bị cáo T, P, N1 và D đã phạm vào tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các bị cáo T, P, N1 và D về tội “Cướp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo không những gây hậu quả làm thiệt hại về tài sản mà còn có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng cho người khác, gây mất trật tự, trị an, tạo nên tâm lý bức xúc, lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tương ứng với từng bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, ngăn chặn phòng ngừa tội phạm.
Trong vụ án này, bị cáo T là rủ rê, đề xuất thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo P giữ vai trò tích cực trong việc thực hiện tội phạm, Hội đồng xét xử xét cần xử lý bị cáo T và bị cáo P mức án cao hơn bị cáo N1 và bị cáo D là phù hợp.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Thiện T rủ rê các bị cáo Dương Đình P, Đinh Văn N1 và Trương Nguyễn Thành D là những người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Dương Đình P, Đinh Văn N1 phạm tội 02 lần nên thuộc trường hợp quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thấy hành vi của các bị cáo là sai trái nên đã nhờ gia đình đứng ra bồi thường thiệt hại cho các bị hại thay cho các bị cáo, các bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp. Đối với các bị cáo T, P, N1 có ông bà là người có công với cách mạng, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt cho các bị cáo T, P.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử xét các bị cáo đều dưới 18 tuổi, không có thu nhập ổn định, còn sống phụ thuộc vào gia đình nên không áp dụng Khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt bổ sung các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.
[6] Về vật chứng vụ án:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, Model A1687 FCCID BCG-E2944A là tài sản của bị cáo T, không liên quan đến việc thực hiện phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo xin nhận lại để sử dụng, xét yêu cầu của bị cáo là có sơ sở nên chấp nhận;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S số Imei: 353301071560192 là tài sản của bị cáo P, không liên quan đến việc thực hiện phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo xin nhận lại để sử dụng, xét yêu cầu của bị cáo là có sơ sở nên chấp nhận;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei 1: 860666054515595, số Imei 2: 860666054515587 là tài sản của bị cáo D, không liên quan đến việc thực hiện phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo xin nhận lại để sử dụng, xét yêu cầu của bị cáo là có sơ sở nên chấp nhận;
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Cup biển số 84AA-017.17, số khung: RL8DCB6UME1013888, số máy: RL8139FMBL1SE0013888 là tài sản của ông Trương Văn H5, bị cáo D dùng làm phương tiện phạm tội ông H5 không biết. Tại phiên tòa, ông H5 xin nhận lại để sử dụng, xét yêu cầu của ông H5 là có sơ sở nên chấp nhận;
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 52M6-9916, số khung: Không có, số máy: Không có là tài sản của bị cáo T dùng vào việc phạm tội, xe không có số khung, số máy thuộc trường hợp không được phép tham gia giao thông đường bộ nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 7 dung lượng 128GB, số I: 353814089752437, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là cháu Nguyễn Ngọc Đăng K và điện thoại di động hiệu Vivo Y21 dung lượng 64GB, số Imei 1: 861428055970215, số Imei 2: 861428055970207, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sơ hữu là cháu Bùi Ngô Hoàng B, các xử lý nêu trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Cháu Nguyễn Ngọc Đăng K và cháu Bùi Ngô Hoàng B bị thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Quá trình điều tra, cháu K và cháu B đã được nhận lại tài sản, được gia đình các bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu thêm gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thiện T, Dương Đình P, Đinh Văn N1 và Trương Nguyễn Thành D phạm tội “Cướp tài sản”.
-
Căn cứ vào Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Thiện T 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
-
Căn cứ vào Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Dương Đình P 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
-
Căn cứ vào Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn N1 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
-
Căn cứ vào Điểm e Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 99, Điều 101 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trương Nguyễn Thành D 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
-
Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Trả lại cho bị cáo Lê Thiện T 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, Model A1687 FCC ID BCG-E2944A;
- Trả lại cho bị cáo Dương Đình P 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, số I: 353301071560192;
- Trả lại cho bị cáo Trương Nguyễn Thành D 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei 1: 860666054515595, số Imei 2: 860666054515587;
- Trả lại cho ông Trương Văn H5 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Cup biển số 84AA-017.07 (số khung: RL8DCB6UME1013888, số máy: RL8139FMBL1SE0013888);
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 52M6-9916 (số khung: Không có, số máy: Không có) .
(Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 1159/LNK-ĐTTH ngày 15/8/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 247/PNK-CSĐT-ĐTTH ngày 27/9/2024 của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C).
-
Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
- Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người giám hộ cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng bị hại, người giám hộ cho bị hại, người giám hộ cho các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 293/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản
- Số bản án: 293/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
