Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ V

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 293/2024/HS-ST

Ngày: 25/09/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hồng và ông Nguyễn Trung Đoàn

Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký TAND TP . V

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Đào - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 257/2024/HSST ngày 15 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Thị Kim X; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1967 tại TP, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: khối B, phường Q, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn I (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); A, chị, em ruột có 08 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Chồng: Phan Trọng L (đã chết); có 01 con sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 27/4/2024 được tại ngoại tại địa phương, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Họ và tên: Cao Thị T; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1972 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: bản Poòng, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: phòng 1801, chung cư C, khối B, phường Q, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Tiến N (đã chết) và bà Lê Thị S (đã chết); A, chị, em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Chồng: Ngô Trí V - sinh năm 1966 (đã ly hôn); có 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 27/4/2024 được tại ngoại tại địa phương, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Họ và tên: Lưu Thị T1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1976 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT: khối D, phường Q, TP ., tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: phòng 703, chung cư T, khối T, phường V, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn V1 (đã chết) và bà Lê Thị L1; Anh, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chồng: Hồ Minh C - sinh năm 1967; có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 05/10/2015 bị Công an phường Q, TP . xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 05/10/2015; - Ngày 16/3/2021 bị TAND TP . Vinh xử phạt 21 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 27/4/2024 được tại ngoại tại địa phương, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

4. Họ và tên: Tống Châu H1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1966 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: khối F, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống Châu T2 và bà Nguyễn Thị Phương N1; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Trương Thị Sao T3 - sinh năm 1973; có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/10/2015 bị Công an phường Q, TP . xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 05/10/2015. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 24/4/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng giữa tháng 3 năm 2024, Đỗ Thị Kim X nhận bảng lô, đề của Cao Thị T. Cụ thể X sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, màu vàng, có số sim 0868.562.539 để nhận bảng số lô, số đề, tính tang số thắng thua với T. Giữa các đối tượng thống nhất với nhau: Hàng ngày, Cao Thị T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, có số sim 0332.548.915 để nhắn tin chuyển các số lô số đề qua tin nhắn văn bản đến số điện thoại 0868.562.xxx cho X, đồng thời X trả lời lại “oke” để xác nhận đã nhận được và đồng ý đánh bạc với nhau. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B thì tính toán thắng thua và ngày hôm sau thì thanh toán tiền thắng thua bằng hình thức đưa tiền mặt; quy định với 01 điểm lô T phải nộp 21.900 đồng; tiền đánh số đề T phải nộp là 72% tiền đánh, còn số lô xiên và ba càng thì X không nhận của T.

Vào ngày 21/4/2024, Đỗ Thị Kim X sử dụng điện thoại di động nói trên nhận bảng lô đề từ Cao Thị T, cụ thể như sau: T sử dụng điện thoại di động có số sim 0332.548.915 nhắn tin chuyển các số lô số, đề cho X bao gồm 100 điểm số lô tương đương với tiền là 2.190.000 đồng, số đề là 3.050.000 đồng; Tổng số tiền đánh số lô, đề là 5.240.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B thì T trúng thưởng 30 điểm lô tương đương số tiền 2.400.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc giữa Cao Thị T với Đỗ Thị Kim X ngày 21/4/2024 là: 5.240.000 đồng + 2.400.000 đồng = 7.640.000 đồng.

* Đối với bảng đề T chuyển cho X nêu trên thì T nhận các số lô, số đề của Lưu Thị T1. Sau khi nhận số lô, số đề của T1 thì T giữ lại một phần tự chung chi còn một phần T chuyển đánh với X, cụ thể:

Vào ngày 21/4/2024, Lưu Thị T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng có số sim 0337.124.423 nhắn tin chuyển các số lô, số đề cho T bằng tin nhắn qua số sim 0332.548.915 của T bao gồm 120 điểm lô, mỗi 01 điểm số lô T thu của T1 22.000 đồng, tương đương với tiền đánh số lô là 2.640.000 đồng; số đề là 1.870.000 đồng; số lô xiên là 200.000 đồng. Tổng số tiền đánh số lô, đề là 4.710.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B thì T1 trúng thưởng 25 điểm lô tương đương số tiền 2.000.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc giữa Lưu Thị T1 với Cao Thị T ngày 21/4/2024 là: 4.710.000 đồng + 2.000.000 đồng = 6.710.000 đồng.

Ngoài các số lô số đề Cao Thị Thanh nhận của Lưu Thị T1 rồi chuyển cho Đỗ Thị Kim X thì T còn đánh thêm các số lô số đề với X có tổng số tiền đánh là 3.611.000 đồng, bao gồm tiền đánh số lô là: 90 điểm x 21.900 đồng = 1.971.000 đồng, tiền đánh số đề là 1.640.000 đồng. Còn một một phần T giữ lại có tổng tang số là 4.280.000 đồng, bao gồm tiền đánh lô, đề là 3.080.000 đồng và tiền trúng thưởng là 1.200.000 đồng. Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết miền B thì T trúng thưởng 20 điểm số lô tương ứng với số tiền là 1.600.000 đồng. Tổng số tiền Cao Thị T đánh bạc thêm với Đỗ Thị Kim X ngày 21/4/2024 là 3.611.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của Cao Thị T trong ngày 21/4/2024 là: 6.710.000 đồng + 3.611.000 đồng = 10.321.000 đồng.

* Đối với bảng đề T1 chuyển cho T nêu trên thì T1 nhận các số lô số đề của Tống Châu H1. Sau khi nhận số lô, số đề của H1 thì T1 giữ lại tổng tang số 12.995.000 đồng, trong đó tiền đánh số lô, số đề là 4.395.000 đồng, tiền trúng thưởng là 8.600.000 đồng, còn một phần T1 chuyển đánh với T, cụ thể:

Vào ngày 21/4/2024, Tống Châu H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, có số sim 0942.394.528 nhắn tin chuyển các số lô, số đề cho T1 bằng tin nhắn qua số điện thoại 0337.124.xxx của T1 bao gồm 250 điểm lô, mỗi 01 điểm số lô T1 thu của H1 số tiền 22.500 đồng tương đương với tiền đánh lô là 5.625.000 đồng; tiền đánh số đề là 3.240.000 đồng và tiền đánh số lô xiên là 300.000 đồng. Tổng số tiền đánh số lô, đề là 9.165.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B thì H1 trúng thưởng 80 điểm lô tương đương số tiền 6.400.000 đồng, trúng thưởng số đề 4.200.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 10.600.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc giữa Tống Châu H1 với Lưu Thị T1 ngày 21/4/2024 là: 9.165.000 đồng + 10.600.000 đồng = 19.765.000 đồng.

Ngày 21/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T, Lưu Thị T1Tống Châu H1.

*Như vậy tổng tang số đánh bạc của các đối tượng cụ thể như sau: Ngày 21/04/2024 tang số đánh bạc của Đỗ Thị Kim X là 7.640.000 đồng; Cao Thị T là 10.321.000 đồng; Lưu Thị T1Tống Châu H1 là 19.763.600 đồng.

Vật chứng vụ án: - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, màu vàng, số IMEI: 865524030648573 thu giữ của Đỗ Thị Kim X.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng; số IMEI: 357273090584709 thu giữ của Cao Thị T.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số IMEI: 353320073665692 thu giữ của Lưu Thị T1.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, số IMEI 353253076789740 thu giữ của Tống Châu H1.

Cáo trạng số 269/CT-VKS-TPV ngày 14/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Vinh đã truy tố Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T, Lưu Thị T1, Tống Châu H1 tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Lưu Thị T1 18 – 21 tháng cải tạo không giam giữ. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Tống Châu Hải 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T từ 20.000.000 đồng – 25.000.000 đồng. Ngoài ra, đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào các ngày 21/04/2024, Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T, Lưu Thị T1, Tống Châu H1 đánh bạc với nhau, bằng hình thức chơi số lô, số đề. Cụ thể tang số đánh bạc của Đỗ Thị Kim X là 7.640.000 đồng; Cao Thị T là 10.321.000 đồng; Lưu Thị T1Tống Châu H1 là 19.763.600 đồng. Như vậy hành vi các bị cáo Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T, Lưu Thị T1 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

[2.2]. Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến an ninh công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống, gây mất trật tự trên địa bàn thành phố. Các bị cáo đều nhận thức được đánh bạc là tội phạm thuộc tệ nạn xã hội nhưng vì hám lợi nên vẫn phạm tội, do đó, cần xét xử nghiêm.

Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Lưu Thị T1, Tống Châu H1 đã từng bị xử, phạt về hành vi đánh bạc nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Đỗ Thị Kim XCao Thị T. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo H1 lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo H1 và cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo T1 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Xét bị cáo Lưu Thị T1, Tống Châu H1 đều có nơi cư trú rõ ràng; tuy có nhân thân xử, phạt về hành vi đánh bạc nhưng thời gian đã lâu; cả hai bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn: con bị cáo T1 bị chậm phát triển tâm thần nặng, con bị cáo H1 bị tâm thần phân liệt thể paranoid (F20.0) nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 BLHS cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Quá trình điều tra xác định, các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên cần miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng cho các bị cáo nhưng cần buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ là phù hợp.

Đối với bị cáo Đỗ Thị Kim XCao Thị T cũng là đối tượng tham gia đánh bạc. Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tang số thấp. Do đó cần áp dụng điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và áp dụng hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 50.000.000 đồng nhưng các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập bấp bênh, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[2.4]. Trong vụ án này theo lời khai của Đỗ Thị Kim X, sau khi nhận số đề từ các bị cáo khác, X chuyển cho một người phụ nữ không rõ lai lịch, địa chỉ.Vì vậy, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý người này.

[2.5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động OPPO A71, màu vàng của Đỗ Thị Kim X; 01 điện thoại di động Iphone 6S, màu bạc của Tống Châu H1; 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng của Lưu Thị T1; 01 điện thoại di động Iphone XS Max của Cao Thị T là công cụ phạm tội cần tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[2.6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T, Lưu Thị T1, Tống Châu H1 phạm tội "Đánh bạc".

Căn cứ điểm khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Lưu Thị T1 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giữ (06 ngày), buộc bị cáo phải chấp hành 17 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND phường V, TP ., tỉnh Nghệ An nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho UBND phường V giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 tiếng/ngày và không quá 05 ngày/tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt T (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giữ (03 ngày), buộc bị cáo phải chấp hành 08 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND phường H, TP ., tỉnh Nghệ An nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo H1 cho UBND phường H giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 tiếng/ngày và không quá 05 ngày/tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Đỗ Thị Kim X 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Cao Thị T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động OPPO A71, màu vàng của Đỗ Thị Kim X; 01 điện thoại di động Iphone 6S, màu bạc của Tống Châu H1; 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng của Lưu Thị T1; 01 điện thoại di động Iphone XS Max của Cao Thị T (theo Phiếu nhập kho số NK 2024/311 ngày 19/09/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Đỗ Thị Kim X, Cao Thị T, Lưu Thị T1, Tống Châu H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND thành phố Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh
  • - Công an thành phố Vinh
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Nghệ An
  • - Bị cáo
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hồ Nữ Hạnh Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 293/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 293/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Kim X xử phạt 20.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger