|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 293/2024/DS-ST Ngày: 20 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hà Thiên Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân chính thức:
- Ông Đinh Hoàng Việt.
- Ông Lưu Đức Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 339/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 371/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 151/2024/QĐHPT-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
Trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
(Đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 01/01/2024)
Bị đơn: Bà Võ Thái Thùy K, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Địa chỉ: H S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/6/2021, Công ty T (Việt Nam) (gọi tắt là công ty) ký Hợp đồng tín dụng số 2345540 về việc cấp tín dụng cho bà Võ Thái Thùy K với khoản vay trị giá 31.650.000 đồng (bao gồm khoản vay 30.000.000 đồng và phí bảo hiểm 1.650.000 đồng). Sau khi hợp đồng được ký kết, công ty đã giải ngân và chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của bà K số tiền 31.650.000 đồng.
Theo hợp đồng tín dụng, bà K có nghĩa vụ trả góp hàng tháng tiền gốc, lãi với số tiền là 1.617.071 đồng, trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 20/7/2021 đến ngày 20/6/2024, theo mức lãi suất là 45%/năm.
Sau khi giải ngân, đến nay bà Võ Thái Thùy K chỉ mới thanh toán trả góp cho công ty được 14 kỳ với số tiền là 22.793.435 đồng. Từ ngày 13/9/2022 đến nay, bà K không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty đã giải ngân.
Công ty đã nhắc nợ nhiều lần để yêu cầu bà K thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà K biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà K vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Võ Thái Thùy K thanh toán cho công ty số tiền tạm tính đến ngày 20/8/2024 là 51.378.891 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 23.612.770 đồng.
- - Số tiền lãi trong hạn: 11.253.928 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn: 15.040.016 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.472.177 đồng.
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập bà K đến Toà để tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng bà K đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.
Tại phiên tòa,
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Phước Quỳnh G có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 2345540 ngày 25/6/2021 giữa Công ty và bà K, phiếu báo nợ do ngân hàng TMCP K1 cung cấp cùng giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA, việc thực hiện giao dịch trên là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán về tiền nợ gốc và lãi nên đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.1] Xét Giấy ủy quyền số 199/2023/GUQ-MAFC ngày 23/5/2023 của Công ty T (Việt Nam) ủy quyền cho Công ty L và Giấy ủy quyền ngày 01/01/2024 của Công ty L Niềm Tin cho bà Nguyễn Phước Q Giao tham gia tố tụng giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Xét, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Võ Thái Thùy K đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không tham gia phiên tòa, cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2345540 ngày 24/6/2021 của Công ty T (Việt Nam) với bà Võ Thái Thùy K, được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự
[2.1]. Đối với yêu cầu trả nợ gốc với số tiền 23.612.770 đồng.
Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2345540 ngày 24/6/2021, phiếu báo nợ do ngân hàng TMCP K1 cung cấp cùng giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA cho thấy bà K có vay của Công ty T (Việt Nam) số tiền 31.650.000 đồng. Tại mục 3.6 Khoản 3 Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận như sau: Hàng tháng bà K có nghĩa vụ trả số tiền là 1.629.071 đồng, kể từ ngày 20/8/2021 đến ngày 20/5/2024. Và căn cứ báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng thể hiện: Quá trình vay, bà K không thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 13/9/2022 đến nay, tính đến ngày 20/8/2024, bà K còn nợ Công ty số tiền nợ gốc là 23.612.770 đồng. Như vậy bà K đã vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 23.612.770 đồng.
[2.2]. Đối với yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi
Tại Mục 3.8 Khoản 3 và Mục 8.3 Khoản 8 của đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 24/6/2021 thì các bên thỏa thuận: Lãi suất trong hạn là 45%/năm, lãi suất quá hạn là mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả bằng 10% dư lãi chậm trả.
Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi với số tiền lãi tạm tính đến ngày 20/8/2024 lãi trong hạn là 11.253.928 đồng, tiền lãi quá hạn là 15.040.016 đồng, tiền lãi chậm trả 1.472.177 đồng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 21/8/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2345540 ngày 24/6/2021 là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Buộc bà Võ Thái Thùy K có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 20/8/2024 là: 51.378.891 (Năm mươi mốt triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi mốt) đồng. Trong đó bao gồm, nợ gốc là 23.612.770 (hai mươi ba triệu, sáu trăm mười hai nghìn, bảy trăm bảy mươi) đồng, tiền lãi trong hạn 11.253.928 (Mười một triệu, hai trăm năm mươi ba nghìn, chín trăm hai mươi tám) đồng, tiền lãi quá hạn 15.040.016 (Mười lăm triệu, không trăm bốn mươi nghìn, không trăm mười sáu) đồng, tiền lãi chậm trả 1.472.177 (Một triệu, bốn trăm bảy mươi hai triệu, một trăm bảy mươi bảy) đồng.
2. Tiền lãi sẽ tiếp tục tính từ ngày 21/8/2024 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết nợ gốc, theo mức lãi suất thỏa thuận và mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận tại trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2345540 ngày 24/6/2021.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm là 2.568.945 đồng (Hai triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn, chín trăm bốn mươi lăm) đồng, bà Võ Thái Thùy K chịu.
Công ty T (Việt Nam) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền 894.673 (tám trăm chín mươi bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi ba) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0035439 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
2000037 506108 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hà Thiên Tâm |
6
Bản án số 293/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 293/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
