|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 293/2024/HNGĐ-ST Ngày 16/8/2024 V/v T/c Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quốc Cường |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Bùi Thị Hoa |
| Bà Hoàng Thị Hường |
– Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 325/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Phạm D, sinh năm 1986. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn H, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở: 774-7, H-ri 3, G, 101 D đường E-ro, Deoksan-eup, J, C, Hàn Quốc. Vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Phương T, sinh năm 1991. Địa chỉ: thôn L, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai có xác nhận của Đ tại Hàn Quốc, anh Lê Phạm D trình bày: Anh D và chị Phạm Phương T kết hôn tự nguyên và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, Nghệ An ngày 14/7/2015. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng về chung sống hạnh phúc và sinh được 02 người con. Sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, hai vợ chồng ít liên lạc và không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, không thể tiếp tục duy trì hôn nhân, anh D làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Phạm Phương T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Phạm Mai C1, sinh ngày 10/01/2016 và Lê Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/02/2018. Hiện các cháu đang ở với chị T tại xã C, huyện A. Khi ly hôn anh D đề nghị giao con chung cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng để các cháu ổn định cuộc sống.
Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía chị Phạm Phương T: Sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, chị T đã có đơn trình bày gửi Tòa án. Về quan hệ hôn nhân, chị T trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng xa cách. Chị T đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh D; đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung của vợ chồng là cháu Lê Phạm Mai C1, sinh ngày 10/01/2016 có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn; cháu Lê Phạm Hoàng P còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nguyên đơn có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại tỉnh Nghệ An; hiện đang lưu trú tại Hàn Quốc; bị đơn có nơi cư trú tại xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, anh Lê Phạm D và chị Phạm Phương T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc gia đình. Khi biết anh D xin ly hôn tại Tòa án, chị T cũng đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Lê Phạm D và chị Phạm Phương T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Phạm D. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Lê Phạm D được ly hôn với chị Phạm Phương T.
[2.2.] Về con chung: Anh D và chị T có 02 con chung là các cháu Lê Phạm Mai C1, sinh ngày 10/01/2016 và Lê Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/02/2018. Hiện các cháu đang ở với chị Phạm Phương T. Anh D, chị T đều thống nhất giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Xét thấy, đây là ý kiến tự nguyện của các đương sự, không trái quy định pháp luật, đạo đức xã hội, đồng thời anh D đang ở nước ngoài nên giao các con chung cho chị Phạm Phương T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, anh D và chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[2.3] Tài sản chung, nợ: Anh Lê Phạm D, chị Phạm Phương T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền khởi kiện theo quy định.
[3]. Về án phí: Anh Lê Phạm D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, điểm d, khoản 1 Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 82, 83, 84 Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Phạm D.
[1] Quan hệ hôn nhân: Anh Lê Phạm D được ly hôn với chị Phạm Phương T.
[2] Con chung: Giao các con chung là 02 con chung là các cháu Lê Phạm Mai C1, sinh ngày 10/01/2016 và Lê Phạm Hoàng P, sinh ngày 01/02/2018 cho chị Phạm Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3] Về tài sản: Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn theo quy định pháp luật.
[4] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Lê Phạm D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012910 ngày 11/6/2024.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
Chị Phạm Phương T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Lê Phạm D đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 293/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 293/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dan Thao Ly hon
