|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 293/2024/DS-PT Ngày 14-6-2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tài. |
| Các thẩm phán: | Ông Bùi Văn Tâm. |
| Bà Trần Thị Thanh Trúc. |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, về việc: tranh chấp về thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 167/2023/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 179/2024/QĐ-PT
ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Ngọc Y, sinh năm 1961; địa chỉ: số E đường Đ, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng M; địa chỉ: E đường Đ, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 18/7/2022); có mặt.
Bị đơn:
- Bà Dương Thị Ngọc D, sinh năm 1973; địa chỉ: số C (số C) khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bà Dương Thị Thu B, sinh năm 1958; địa chỉ: số D khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Công Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Dương Công D1, sinh năm 1962; địa chỉ: số B, thôn B, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
- Ông Dương Thành N, sinh năm 1963; địa chỉ: số I đường H, tổ H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Dương Thị Ngọc D2, sinh năm 1967; địa chỉ: số C (số C) khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Dương Thị Thu V, sinh năm 1971; địa chỉ: số G khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Phan Văn Đ1, sinh năm 1969; địa chỉ: số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Anh Phan Thanh S, sinh năm 1995; địa chỉ: số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Chị Phan Thị Ngọc H, sinh năm 2000; địa chỉ: số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Chị Hồ Thị Bích H1, sinh năm 1998; địa chỉ: số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Anh Dương Quốc H2, sinh năm 1987; địa chỉ: số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Anh Dương Tấn Đ2, sinh năm 2002; địa chỉ: số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Cháu Dương Gia B1, sinh năm 2012; địa chỉ: số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của cháu Dương Gia B1: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1969; địa chỉ: 2 khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1969; địa chỉ: 2 khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc Y trình bày:
Cha bà Y là ông Dương Văn D3, sinh năm 1937, mẹ bà Y là bà Võ Thị T, sinh năm 1936. Vào năm 2011, ông Dương Văn D3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 721m², thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, toạ lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho ông Dương Văn D3 ngày 15/10/2011.
Ngày 07/12/2012, ông Dương Văn D3 chết, đến ngày 28/04/2017, bà Võ Thị T chết. Ông D3 và bà T có tất cả 08 người con chung: Dương Thị Thu B, Dương Thị Ngọc Y, Dương Công D1, Dương Thị Ngọc D2, Dương Thành N, Dương Công Đ, Dương Thị Thu V và Dương Thị Ngọc D. Ngoài ra, ông D3 và bà T không có con nuôi, con riêng; cha, mẹ của ông D3 và bà T đã chết trước ông D3 và bà T. Những người thừa kế của ông D3 và bà T là 08 người con chung.
Diện tích đất là di sản thừa kế mà cha mẹ bà Y chết để lại là quyền sử dụng đất có diện tích 721m², thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, toạ lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho ông Dương Văn D3 ngày 15/10/2011. Cha mẹ bà Y chết đi không để lại di chúc khối tài sản này là di sản của cha mẹ bà Y để lại cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian vừa qua, các anh chị em bà Y đã tìm mọi cách giải quyết việc phân chia tài sản do cha mẹ để lại nhưng không mang lại kết quả nên bà Y nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Chia di sản thừa kế của ông Dương Văn D3 và bà Võ Thị T để lại là diện tích đất 721m², thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, toạ lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp giấy chứng nhận cho ông Dương Văn D3 ngày 15/10/2011 thành 08 kỷ phần bằng nhau, không yêu cầu chia căn nhà của cha mẹ để lại mà căn nhà nằm trên đất ai được chia thì thuộc sở hữu của người đó. Bà Y yêu cầu được nhận bằng hiện vật và thanh toán lại giá trị chênh lệch (nếu có).
- Bị đơn bà Dương Thị Ngọc D và bà Dương Thị Thu B trình bày:
Theo đơn khởi kiện bà Dương Thị Ngọc Y trình bày về quan hệ nhân thân gia đình là đúng. Ông Dương Văn D3, chết ngày 07/12/2012; bà Võ Thị T, chết ngày 28/4/2017. Ông D3 và bà T có tất cả 08 người con chung: Dương Thị Thu B, Dương Thị Ngọc Y, Dương Công D1, Dương Thị Ngọc D2, Dương Thành N, Dương Công Đ, Dương Thị Thu V và Dương Thị Ngọc D. Ngoài ra, ông D3 và bà T không có con nuôi, con riêng; cha, mẹ của ông D3 và bà T đã chết trước ông D3 và bà T. Những người thừa kế của ông D3 và bà T là 08 người con chung.
Ông D3 và bà T để lại phần đất diện tích là 721m² thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8 toạ lạc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương và căn nhà nhỏ. Nhà đất đã được cấp sổ đỏ do cha mẹ đứng tên. Phần đất này ngoài căn nhà của ông Dương Công Đ và 01 căn nhà của Phan Văn Đ1 (chồng của D), khi còn sống cha mẹ có ra phường D lập giấy tờ cho đất cho ông Đ và ông Đ1 cất nhà ở.
Riêng bà Dương Thị Thu B thì đã được cha mẹ cho 1 phần đất khoảng 120m² và đã được cấp sổ từ lâu. Phần đất này không nằm trong sổ đất cấp cho cha mẹ.
Hiện nay, bà cũng không có nhà ở, phải ở trọ nhưng bà có nguyện vọng giữ thửa đất và căn nhà của cha mẹ để lại làm nhà thờ và là tài sản chung của tất cả các đồng thừa kế, chỉ có khó khăn khi về đó ở. Nhưng nếu không giữ lại được nửa phần chia thì bà cũng muốn được chia một phần theo quy định của pháp luật.
Bà D chưa khai 100% đất để cất nhà thờ, diện tích đất trên tài sản và chia số tiền bán được làm 09 phần, trong đó dùng 01 phần làm để cất nhà thờ trên 100m² đất chưa lại, còn 08 phần tiền chia cho mỗi người con 01 phần.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Thành N, bà Dương Thị Thu V trình bày:
Ông Dương Thành N và bà Dương Thị Thu V thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với đất, không yêu cầu chia căn nhà của cha mẹ để lại mà căn nhà nằm trên đất của ai được chia thì thuộc sở hữu của người đó. Ông N và bà V cũng muốn được nhận một phần thừa kế và xin nhận bằng giá trị.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Công Đ trình bày:
Năm 1998, ông D3 đã ủy quyền cho ông một phần diện tích 60 m² trong tổng diện tích 721 m² cho ông cất nhà để ở và ông toàn quyền sử dụng đối với diện tích 60 m². Từ đó, ông cất nhà bằng nằm ông là người đóng phí, lệ phí nhà nước theo quy định. Hơn nữa, ông Đ và đang sinh sống ổn định trên đất mặt ông D3 đã ủy quyền cho ông từ năm 1998 đến nay. Do đó, diện tích đất 721 m² của ông D3 và bà T để lại thực tế ông D3 đã cho ông 60 m² theo Giấy ủy quyền ngày 08/08/1998.
Vì vậy, nay ông yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất là 60 m² thuộc quyền sở hữu của ông và yêu cầu Tòa án chia di sản kế của ông Dương Văn D3 và bà Võ Thị T đối với diện tích đất còn lại thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8 toạ lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương thành 08 phần bằng nhau và ông được nhận 1/8 diện tích đất bằng hiện vật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Công D1 trình bày:
Ông D1 thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn về quan hệ nhân thân, huyết thống, những người thừa kế của ông Dương Văn D3 và bà Võ Thị T. Ông D1 xác định ông D3 và bà T để lại tài sản là diện tích đất 721m² thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8 toạ lạc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Trên đất có 03 căn nhà: 01 của ông D3 và bà T xây dựng và ở khi còn sống, hiện nay do bà Dương Thị Ngọc D2 đang ở; 01 căn nhà do ông D3 và bà T cho bà Dương Thị Ngọc D ở; 01 căn nhà của ông Dương Công Đ xây dựng ở nhưng chưa tách sổ.
Hiện nay, bà Y có yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất của ông D3 và bà T để lại thì ông cũng yêu cầu được chia một phần theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2023/DS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Ngọc Y đối với bà Dương Thị Thu B và bà Dương Thị Ngọc D về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản.
Phân chia di sản thừa kế của ông Dương Văn D3 và bà Võ Thị T để lại là quyền sử dụng đất có diện tích theo đo đạc thực tế 685,3m², thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho các đồng thừa kế gồm: bà Dương Thị Thu B, bà Dương Thị Ngọc Y, bà Dương Thị Thu V, bà Dương Thị Ngọc D2, ông Dương Công D1, ông Dương Thành N, ông Dương Công Đ và bà Dương Thị Ngọc D, cụ thể như sau:
1.1. Về chia hiện vật:
- Bà Dương Thị Ngọc D được chia diện tích đất 226m² (16,7m² đất ở và 209,3m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với căn nhà có diện tích 84,9m² hiện bà Dương Thị Ngọc D và ông Phan Văn Đ1 đang ở và một phần nhà có diện tích 16,7m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm bàn giao cho bà Dương Thị Ngọc D một phần nhà có diện tích 16,7m² mà bà Dương Thị Ngọc D được chia.
- Bà Dương Thị Ngọc Y được chia diện tích đất 156,1m² (53,8m² đất ở và 102,3m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 53,8m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm bàn giao cho bà Dương Thị Ngọc Y phần tài sản bà Dương Thị Ngọc Y được chia.
- Bà Dương Thị Ngọc D2 được chia diện tích đất 154,3m² (43m² đất ở và 111,3 m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu C trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 39,9 m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Trên đất của bà Dương Thị Ngọc D2 được chia hiện có một phần nhà của ông Dương Công Đ đang ở có diện tích 3,1m² (kết cấu: mái tôn, nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước). Ông Dương Công Đ có trách nhiệm tháo dỡ phần nhà này để giao cho bà Dương Thị Ngọc D2 phần diện tích đất gắn liền.
- Ông Dương Công Đ được chia diện tích đất 148,9m² (46,5m² đất ở và 102,4m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu D trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 46,5m² hiện ông Dương Công Đ đang quản lý, sử dụng.
- Tài sản hiện có trên đất được chia cho ai thuộc quyền sở hữu của người đó.
1.2. Về thanh toán giá trị chênh lệch:
- Bà Dương Thị Ngọc D có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Thị Thu B giá trị kỷ phần bà Dương Thị Thu B được hưởng là 1.541.262.500 (một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Công D1 795.675.000 (bảy trăm chín mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- Bà Dương Thị Ngọc Y có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Thị Thu V 1.541.262.500 (một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Thành N 308.475.000 (ba trăm lẻ tám triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Công D1 745.587.500 (bảy trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Thành N 288.850.000 (hai trăm tám mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Ông Dương Công Đ có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Thành N 943.937.500 (chín trăm bốn mươi ba triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Dương Thị Ngọc Y được miễn án phí.
- Bà Dương Thị Ngọc D, bà Dương Thị Ngọc D2, ông Dương Công Đ mỗi người phải chịu 77.331.000 (bảy mươi bảy triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn) đồng.
- Bà Dương Thị Thu B, bà Dương Thị Thu V, ông Dương Công D1 và ông Dương Thành N mỗi người phải chịu 58.238.000 (năm mươi tám triệu hai trăm ba mươi tám nghìn) đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, đương sự trong vụ án không ai kháng cáo.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị yêu cầu sửa án sơ thẩm miễn án phí cho bà Dương Thị Thu B, ông Dương Công D1 và ông Dương Thành N do là người cao tuổi, sửa lại cách tuyên án về việc buộc ông Đ tháo dỡ một phần nhà diện tích 3,1m² là ảnh hưởng kết cấu căn nhà, không thể thi hành án được.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã có những vi phạm như tuyên buộc người cao tuổi như bà B, ông D1, ông N phải chịu án phí là không đúng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tại phiên tòa, bị đơn trình bày không được triệu tập tham gia phiên tòa, không nhận được bản án sơ thẩm nên không kháng cáo. Nhận thấy, Tòa án vi phạm tố tụng, tuyên án không rõ ràng, bản vẽ không trùng khớp, đối với căn nhà cấp 4 của ông Đ mà tuyên buộc tháo dỡ một phần diện tích nhà là ảnh hưởng đến kết cấu căn nhà. Đề nghị chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Theo diễn biến tại phiên tòa, bị đơn cho rằng không thay đổi nơi cư trú nên Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành niêm yết bản án là không phù hợp với quy định. Nếu có căn cứ thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- [2] Nội dung vụ án: quyền sử dụng đất các bên đương sự tranh chấp có diện tích 721m² (theo đo đạc thực tế 685,3m²), thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho ông Dương Văn D3 ngày 15/10/2011. Khi còn sống ông D3 cùng với vợ là bà Võ Thị T cùng cất nhà ở và cùng quản lý, sử dụng đất này nên phần đất này cùng với căn nhà trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông Dương Văn D3 và bà Võ Thị T. Ông Dương Văn D3 chết ngày 07/12/2012, bà Võ Thị T chết ngày 28/4/2017. Ông D3 và bà T để lại di chúc. Ông D3 và bà T có tất cả 08 người con chung gồm: Dương Thị Thu B, Dương Thị Ngọc Y, Dương Công D1, Dương Thị Ngọc D2, Dương Thành N, Dương Công Đ, Dương Thị Thu V và Dương Thị Ngọc D. Ngoài ra, ông D3 và bà T không có con nuôi, con riêng; cha, mẹ của ông D3 và bà T đã chết trước ông D3 và bà T. Những nội dung này trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm các đương sự đều thừa nhận nên đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định của Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Trên đất ngoài căn nhà của ông D3, bà T để lại hiện do bà Dương Thị Ngọc D2 đang ở, còn có căn nhà của ông Dương Công Đ, ông Đ khai được ông D3 cho cất nhà ở nhưng theo giấy tờ thì ông D1 chỉ làm giấy ủy quyền cho ông Đ để cất nhà ở theo Giấy ủy quyền ngày 08/8/1998 với diện tích 04m x 15m = 60m². Năm 2005 ông D3 đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông D3 cũng xin cấp toàn bộ thửa đất 164, tờ bản đồ 2AB.8 (được nhập từ các thửa 164, 167 và 2025), trong đó bao gồm cả phần đất đã ủy quyền cho ông Đ cất nhà ở. Do đó, phần đất này vẫn còn là tài sản của ông D3, bà T và là di sản thừa kế của ông D3, bà T để lại chưa chia.
- [4] Trên đất còn có căn nhà hiện nay vợ chồng bà Dương Thị Ngọc D, ông Phan Văn Đ1 đang ở. Theo bà D khai là của ông D3 cho ông Đ1 cất nhà ở, các đương sự khác khai là nhà của ông D3, bà T xây dựng và sau khi ông D3 chết thì vợ chồng bà D ở. Tuy nhiên, những đồng thừa kế của ông D3, bà T không ai có yêu cầu chia căn nhà này.
- [5] Về công sức bảo quản, gìn giữ di sản sau khi ông D3, bà T chết, bà D, bà D2 và bà Y ở và quản lý, gìn giữ. Do vậy, để bảo đảm quyền lợi cho ông Đ, bà D2, bà D Tòa án cấp sơ thẩm tính công sức cho mỗi người 5% (tổng 15%) giá trị di sản trước khi phân chia thừa kế theo pháp luật để giải quyết quyền lợi cho người quản lý, gìn giữ di sản là phù hợp.
- [6] Về chia hiện vật, để bảo đảm diện tích tối thiểu và điều kiện được tách thửa khi chia thừa kế, thửa đất có chiều ngang tiếp giáp đường công cộng là 16,73m, chỉ có thể chia hiện vật làm 04 phần. Xét nhu cầu về chỗ ở thì trước tiên ưu tiên cho 03 người đã và đang ở trên đất là ông Đ, bà D2 và bà D được nhận kỷ phần thừa kế là quyền sử dụng đất. Đồng thời, nguyên đơn bà Y cũng có nhu cầu được nhận đất và xác định có khả năng thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác. Các ông, bà B, D1, N và V đã có nhà, đất ở ổn định riêng nên Tòa án sơ thẩm chia kỷ phần thừa kế bằng tiền là phù hợp.
- [7] Diện tích đất của ông D3, bà T để lại sau khi trừ 15% giá trị để tính công sức quản lý, giữ gìn cho ông Đ, bà D2, bà D thì giá trị còn lại được chia đều cho 08 đồng thừa kế của ông D3, bà T. Trong đó, ông Đ, bà D2, bà Y, bà D nhận đất và có nghĩa vụ thanh toán giá trị tương ứng với kỷ phần thừa kế cho ông D1, ông N, bà V và bà B cụ thể:
- [8] Bà Dương Thị Ngọc D được chia diện tích đất 226m² (16,7m² đất ở và 209,3m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với căn nhà có diện tích 84,9m² hiện bà Dương Thị Ngọc D và ông Phan Văn Đ1 đang ở và một phần nhà có diện tích 16,7m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm bàn giao cho bà Dương Thị Ngọc D một phần nhà có diện tích 16,7m² mà bà Dương Thị Ngọc D được chia.
- [9] Bà Dương Thị Ngọc Y được chia diện tích đất 156,1m² (53,8m² đất ở và 102,3m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 53,8m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm bàn giao cho bà Dương Thị Ngọc Y phần tài sản bà Dương Thị Ngọc Y được chia.
- [10] Bà Dương Thị Ngọc D2 được chia diện tích đất 154,3m² (43m² đất ở và 111,3 m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu C trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 39,9 m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Trên đất của bà Dương Thị Ngọc D2 được chia hiện có một phần nhà của ông Dương Công Đ đang ở có diện tích 3,1m² (kết cấu: mái tôn, nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước). Ông Dương Công Đ có trách nhiệm tháo dỡ phần nhà này để giao cho bà Dương Thị Ngọc D2 phần diện tích đất gắn liền.
- [11] Ông Dương Công Đ được chia diện tích đất 148,9m² (46,5m² đất ở và 102,4m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu D trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 46,5m² hiện ông Dương Công Đ đang quản lý, sử dụng.
- [12] Về thanh toán giá trị chênh lệch:
- [12.1] Bà Dương Thị Ngọc D có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Thị Thu B giá trị kỷ phần bà Dương Thị Thu B được hưởng là 1.541.262.500 (một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Công D1 795.675.000 (bảy trăm chín mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- [12.2] Bà Dương Thị Ngọc Y có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Thị Thu V 1.541.262.500 (một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Thành N 308.475.000 (ba trăm lẻ tám triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- [12.3] Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Công D1 745.587.500 (bảy trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Thành N 288.850.000 (hai trăm tám mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
- [12.4] Ông Dương Công Đ có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Thành N 943.937.500 (chín trăm bốn mươi ba triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
- [13] Trên cơ sở giá trị di sản mà các thừa kế được hưởng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc các thừa kế phải chịu án phí có giá ngạch là đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Mặc dù bà Dương Thị Thu B, ông Dương Công D1 và ông Dương Thành N là người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi theo Luật Người cao tuổi) nhưng bà B, ông D1, ông N không có đơn yêu cầu miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định phải chịu án phí là đúng quy định.
- [14] Đối với phần đất chia cho bà Dương Thị Ngọc D, tại bản án sơ thẩm ghi ký hiệu B, đến ngày 15/12/2023, Tòa án cấp sơ thẩm đã có quyết định sửa chữa, bổ sung bản án về ký hiệu phần đất chia cho bà D (ký hiệu A). Đồng thời, tại phần chủ đích của M1 trích lục địa chính kèm theo bản án sơ thẩm ghi sai các ký hiệu của các phần đất chia cho các thừa kế. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại phần chủ đích các phần đất chia cho các đương sự, để đảm bảo việc thi hành án. Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Đ tháo dỡ một phần nhà có diện tích 3,1m² nhưng ông Đ không kháng cáo do thể hiện sự thống nhất với bản án sơ thẩm. Do đó, không cần thiết xem xét lại phần này.
- [15] Tại cấp phúc thẩm, ông Dương Thành N có đơn yêu cầu miễn án phí, bà Dương Thị Thu B có mặt tại phiên tòa có yêu cầu miễn án phí do là người cao tuổi. Do đó, Tòa án miễn án phí dân sự cho ông Dương Thành N và bà Dương Thị Thu B. Đối với ông D1 không có đơn yêu cầu miễn án phí nên không có cơ sở miễn án phí cho ông D1. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương được chấp nhận một phần.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 48, 147, 148, khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 05/QĐKN-VKS-DS ngày 26/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 167/2023/DS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Dương Thành N và bà Dương Thị Thu B.
- Không chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 05/QĐKN-VKS-DS ngày 26/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc miễn án phí cho ông Dương Công D1.
- Các phần khác của Bản án sơ thẩm số 167/2023/DS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có hiệu lực pháp luật như sau:
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Ngọc Y đối với bà Dương Thị Thu B và bà Dương Thị Ngọc D về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản.
Phân chia di sản thừa kế của ông Dương Văn D3 và bà Võ Thị T để lại là quyền sử dụng đất có diện tích theo đo đạc thực tế 685,3m², thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho các đồng thừa kế gồm: bà Dương Thị Thu B, bà Dương Thị Ngọc Y, bà Dương Thị Thu V, bà Dương Thị Ngọc D2, ông Dương Công D1, ông Dương Thành N, ông Dương Công Đ và bà Dương Thị Ngọc D. Cụ thể như sau:
- Về chia hiện vật:
- + Bà Dương Thị Ngọc D được chia diện tích đất 226m² (16,7m² đất ở và 209,3m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với căn nhà có diện tích 84,9m² hiện bà Dương Thị Ngọc D và ông Phan Văn Đ1 đang ở và một phần nhà có diện tích 16,7m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm bàn giao cho bà Dương Thị Ngọc D một phần nhà có diện tích 16,7m² mà bà Dương Thị Ngọc D được chia.
- + Bà Dương Thị Ngọc Y được chia diện tích đất 156,1m² (53,8m² đất ở và 102,3m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 53,8m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm bàn giao cho bà Dương Thị Ngọc Y phần tài sản bà Dương Thị Ngọc Y được chia.
- + Bà Dương Thị Ngọc D2 được chia diện tích đất 154,3m² (43m² đất ở và 111,3 m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu C trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 39,9 m² hiện bà Dương Thị Ngọc D2 đang quản lý, sử dụng. Trên đất của bà Dương Thị Ngọc D2 được chia hiện có một phần nhà của ông Dương Công Đ đang ở có diện tích 3,1m² (kết cấu: mái tôn, nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước). Ông Dương Công Đ có trách nhiệm tháo dỡ phần nhà này để giao cho bà Dương Thị Ngọc D2 phần diện tích đất gắn liền.
- + Ông Dương Công Đ được chia diện tích đất 148,9m² (46,5m² đất ở và 102,4m² đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 2AB.8, tọa lạc tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu D trên bản trích đo kèm theo), gắn liền với phần nhà có diện tích 46,5m² hiện ông Dương Công Đ đang quản lý, sử dụng.
- Tài sản hiện có trên đất được chia cho ai thuộc quyền sở hữu của người đó.
- Về thanh toán giá trị chênh lệch:
- + Bà Dương Thị Ngọc D có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Thị Thu B giá trị kỷ phần bà Dương Thị Thu B được hưởng là 1.541.262.500 (một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Công D1 795.675.000 (bảy trăm chín mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- + Bà Dương Thị Ngọc Y có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Thị Thu V 1.541.262.500 (một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Thành N 308.475.000 (ba trăm lẻ tám triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- + Bà Dương Thị Ngọc D2 có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Công D1 745.587.500 (bảy trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm) đồng; thanh toán cho ông Dương Thành N 288.850.000 (hai trăm tám mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
- + Ông Dương Công Đ có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Thành N 943.937.500 (chín trăm bốn mươi ba triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chi phí tố tụng: Bà Dương Thị Ngọc D, bà Dương Thị Ngọc D2, ông Dương Công Đ, bà Dương Thị Thu B, bà Dương Thị Thu V, bà Dương Thị Ngọc Y, ông Dương Công D1 và ông Dương Thành N mỗi người phải chịu 840.700 (tám trăm bốn mươi nghìn bảy trăm) đồng. Phần bà Dương Thị Ngọc Y được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án. Bà Dương Thị Ngọc D, bà Dương Thị Ngọc D2, ông Dương Công Đ, bà Dương Thị Thu B, bà Dương Thị Thu V, ông Dương Công D1 và ông Dương Thành N mỗi người có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Dương Thị Ngọc Y 840.700 (tám trăm bốn mươi nghìn bảy trăm) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Dương Thị Ngọc Y được miễn án phí.
- Bà Dương Thị Ngọc D, bà Dương Thị Ngọc D2, ông Dương Công Đ mỗi người phải chịu 77.331.000 (bảy mươi bảy triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn) đồng.
- Bà Bà Dương Thị Thu V, ông Dương Công D1 mỗi người phải chịu 58.238.000 (năm mươi tám triệu hai trăm ba mươi tám nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tài |
Bản án số 293/2024/DS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 293/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
