TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 293/2025/HS-PT Ngày 23 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
- Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;
- Bà Nguyễn Thị Quyên.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 172/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Phan Văn T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 26-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn T, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: 07509401465X; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị báo bị bắt quả tang ngày 06-12-2024, tạm giữ, đến ngày 15-12-2024 được tại ngoại; hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 135/2025/LCĐKNCT ngày 12-6-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có đương sự tham gia tố tụng nhưng không có kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nội dung chính:
- Vật chứng vụ án:
- - 04 (bốn) khối hình hộp, kích thước mỗi khối (17x17x10)cm, bên trong mỗi khối có 49 (bốn mươi chín) ống phóng, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc có chữ nước ngoài được niêm phong ký hiệu M.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15S, màu xanh, bên trong có gắn 01 (một) sim số 0386.491.839 thu giữ của Phan Văn T, là điện thoại T dùng để liên lạc mua pháo.
- Giám định:
- Quyết định của cấp sơ thẩm:
Do bản thân có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ trong dịp Tết, thông qua mạng xã hội facebook, Phan Văn T biết được người có facebook tên “Quang Thới” đang bán pháo hoa nổ, nên T kết bạn và đặt mua pháo hoa nổ về để sử dụng. Sau khi được Thới thông báo giá bán mỗi hộp pháo hoa loại 49 viên là 800.000 đồng, T đặt mua Thới 04 hộp. Đến khoảng 15 giờ ngày 24/11/2024, T1 đưa 04 hộp pháo hoa đến trước cổng Nhà thờ L, thuộc Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, bán cho T với số tiền là 3.200.000 đồng. T đưa 04 hộp pháo hoa về nhà cất giấu trong tủ sắt đựng đồ bên trong phòng ngủ tại nhà (Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai). Đến lúc 15 giờ ngày 06/12/2024, Công an xã X kiểm tra hành chính tại nhà T, phát hiện 04 hộp pháo hoa trên và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, niêm phong tang vật theo quy định.
Kết luận giám định số: 7535/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật ký hiệu M gửi đến giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 6,5 kg.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 26-02-2025 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 24/2025/TB-TA ngày 28-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt 01 năm tù. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
- Kháng cáo:
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phan Văn T kháng cáo, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Văn T theo tội danh và điều luật bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội và hình phạt là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về lý lịch bị cáo:
Bị cáo Phan Văn T bị bắt quả tang ngày 06-12-2024 (bút lục số 28); sau đó, bị tạm giữ, đến ngày 15-12-2024 được tại ngoại (bút lục số 24). Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận nội dung này vào bản án là không phù hợp; do đó, điều chỉnh lại tại bản án phúc thẩm này.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu; cùng với kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo:
- 3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- 3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có học vấn thấp nên phần nào cũng bị hạn chế về nhận thức pháp luật; bị cáo là lao động chính đang nuôi dưỡng mẹ trên 60 tuổi. Áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn, được chính quyền địa phương xác nhận ngày 04-3-2025, thể hiện gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
- 3.3. Hình phạt:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện, việc cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Văn T hình phạt như trên là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới nêu trên, nên chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phan Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Không chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, 2 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn T.
Sửa một phần về hình phạt do khách quan, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 26-02-2025 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 24/2025/TB-TA ngày 28-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Tội danh và hình phạt:
- Về án phí:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Phan Văn T vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù, được trừ đi thời gian bị bắt quả tang, tạm giữ, từ ngày 06-12-2024 đến ngày 15-12-2024.
Bị cáo Phan Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 293/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 293/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”
